Website này Xem tốt nhất với trình duyệt Firefox

Thứ Hai, ngày 06 tháng 6 năm 2011

NỮ TU SỐNG TỐT ĐỨC KHIẾT TỊNH TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM


NỮ TU SỐNG TỐT ĐỨC KHIẾT TỊNH TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Đây là các bài thuyết trình nhóm của hai lớp Học viện Liên Dòng Nữ Têrêsa Avila Bùi Chu sắp ra trường dựa trên hai câu hỏi:
1. Tương tác giữa ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Vâng Phục.
2. Bối cảnh thuận lợi và không thuận lợi cho lối sống thanh khiết do thực tế của Giáo hội và xã hội Việt Nam hôm nay, hay nói cách khác những nguy cơ vi phạm và sai lỗi thường có thể xảy ra.


[1]
DẪN NHẬP

Ba lời khấn làm nên đời sống của người thánh hiến, nhưng chúng có mối tương quan với nhau như thế nào? Nhất là trong xã hội Việt Nam hôm nay, nhu cầu tìm thỏa mãn các thú vui nhục dục ngày một gia tăng, xu hướng thích hưởng thụ, thích tự do sống thử đã làm người ta không còn quan tâm và trân trọng đến việc giữ sự thanh khiết. Vậy làm sao để giữ và sống khiết tịnh khi mà ngay cả trong Giáo Hội cũng đã và đang phải gánh chịu lối sống này và đâu là phương cách giải quyết? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu từng vấn đề.

I. TƯƠNG QUAN GIỮA BA LỜI KHẤN KHÓ NGHÈO, THANH BẦN VÀ VÂNG PHỤC

Cuộc đời người tu sĩ gắn liền với ba lời khấn: KHÓ NGHÈO, THANH BẦN VÀ KHIẾT TỊNH, đụng chạm đến ba lãnh vực của con người là quyền lực, của cải, giới tính. Vâng phục mời gọi từ bỏ quyền lực thế gian để trở nên người vâng phục của tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Khó nghèo kêu mời từ bỏ của cải thế gian để trở nên những người anh chị em nhỏ bé của tình yêu, trở nên một với những ai đau khổ, cầu nguyện và hành động cho sự giải phóng của họ. Thanh khiết mời gọi từ bỏ khoái lạc thế gian để trở nên những người bạn của tình yêu, giúp người khác khám phá ra rằng họ đang được yêu và mời gọi yêu thương.

Chính vì thế mà ba lời khấn này không tách rời nhau, nhưng hỗ trợ bổ túc cho nhau. Chúng đều phát xuất từ lời mời gọi theo Đức Kitô và việc đáp trả của mỗi con người. Tuy vậy, mỗi lời khấn đều sở hữu những nét rất riêng của nó nhằm làm phong phú đời sống của người tu sĩ và trong tương tác với mọi mối tương quan.

Trước hết với lời khấn khó nghèo:
Chính Chúa Giê-su đã nói: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Mt. 6,24). Các sinh hoạt của con người luôn cần đến các phương tiện: Ta không thể mua thức ăn và vật dụng cần thiết nếu không có tiền, cũng không thể đi lại thuận tiện và nhanh chóng khi không có xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay… Chính vì vậy người ta thường nói “Đồng tiền đi liền khúc ruột”. Nhưng làm sao để sống tiết kiệm trong việc sử dụng thời gian sức khỏe, của cải, tiền bạc? Làm sao để tiền của thành phương tiện hữu ích cho ta mà không khống chế ta? Với người tu sĩ, lời khấn khó nghèo giúp thực hiện điều đó. Nó giúp người tu sĩ có được tự do nội tâm trước của cải, tiền bạc để thực sự nhận Chúa làm gia nghiệp, và Chúa là giá trị cao nhất. Có Chúa là có tất cả và Chúa sẽ giúp biến của cải thành những phương tiện yêu thương và hiệp thông quy tụ những tâm hồn thanh thoát để giúp đỡ những người nghèo khổ, kém may mắn.

Tuy nhiên, lời khấn khó nghèo sẽ chẳng giúp gì cho người tu sĩ nếu người đó chỉ khấn môi miệng mà lòng không có: khấn khó nghèo mà lòng chất chứa ghen tương, đố kỵ khi người khác hơn mình, hoặc cứ tìm cách này cách khác để nhận tiền. Chẳng hạn một nữ tu có tới năm cha bảy mẹ, mà đồ đạc của họ thì không ai dám động tới, chỉ biết nhận mà không biết cho. Tu sĩ như thế thì làm sao có thể nói lời khấn khó nghèo giúp thanh thoát được.

Lời khấn Vâng Phục:
Người không thể sống khó nghèo thì vâng lời cũng không có, điều này dễ hiểu, vì vâng phục là từ bỏ tự do cá nhân để làm theo ý muốn của Chúa qua các thẩm quyền. Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta về đức vâng lời: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga. 4,34).

Vâng phục giúp ta được tự do hy sinh chọn lựa riêng, can đảm từ bỏ những ham thích ở đời nhằm làm vinh danh Chúa, biết đặt mình trước ý muốn của Chúa được thể hiện qua Giáo hội, luật dòng, các bề trên. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới là lý thuyết, vì thực tế đây là một vấn đề hết sức khó khăn, đụng chạm đến danh dự, tự ái và tự trọng của từng người. Không dễ gì ta vâng lời một bề trên kém cỏi mà lại bảo thủ, nóng nảy lại còn thiên tư tây vị, có chăng đó cũng chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng. Do đó, muốn giữ đức vâng phục thì buộc ta phải trở về với điểm xuất phát là Đức Kitô, nhìn lại mục đích ta đi tu để làm gì? Và mọi việc ta làm có làm vì vinh danh Chúa không hay chỉ làm vinh danh ta? Điều này thì chỉ có mình với Chúa biết mà thôi.

Lời khấn Khiết tịnh:
Nếu hai lời khấn khó nghèo và vâng phục được tuân giữ cách ý thức thì lời khấn khiết tịnh cũng không gặp mấy khó khăn. Dầu vậy thì Thánh kinh cũng nhắc nhở: “Hỡi những ai nghĩ mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,2), bởi bản tính tự nhiên của con người có sự hấp dẫn tính dục với người khác phái, và con tim có những lý lẽ riêng mà lý trí không kiểm soát được. Sách Diễm ca cũng nói rằng “Tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ. Lửa tình là ngọn lửa bùng cháy, một ngọn lửa thần thiêng. Nước lũ không tài nào dập tắt được tình yêu”.

Những hấp dẫn khao khát tự nhiên của tình yêu, con người dễ bộc lộ mãnh liệt hơn nữa như một thứ bù trừ khi gặp đau khổ, buồn phiền, oan ức, chán nản, tuyệt vọng và cô đơn. Nó không loại trừ ai, dù là người thường hay giới tu hành. Cũng chính vì biết được điều này nên Chúa Giêsu đã căn dặn các môn đệ: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì nhẹ nhàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”. Người Việt nam cũng có câu: “Bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”, kẻo “cười người hôm trước hôm sau người cười”. Quả thế, trong lãnh vực này, không ai được phép cho mình mạnh cả. Thánh Phaolô tâm sự: “có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt.”

Tóm lại, mỗi người sống ơn gọi tu sĩ đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà ta có định hướng đúng hay sai. Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái tôi khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị quyền lực. Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh khiết, Khó nghèo, Vâng lời.

II. BỐI CẢNH THUẬN LỢI VÀ KHÔNG THUẬN LỢI CHO LỐI SỐNG THANH KHIẾT, TỪ THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY.

* Những thuận lợi
Ngay từ những thế kỷ đầu, để nói về lối sống khiết tịnh, Thánh Phaolô đã nhắn nhủ các tín hữu của mình: “Tôi muốn anh em không phải bận tâm lo lắng điều gì, đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa và tìm cách làm đẹp lòng Người. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác”. Ngài đã cho ta cảm nhận được giá trị cao quý của đời sống khiết tịnh.

Đời sống khiết tịnh không làm mất đi phẩm giá con người, nhưng làm cho ta có được sự tự do, tự do kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và phục vụ Nước Chúa. Đồng thời, đời sống khiết tịnh diễn tả trước cuộc sống mai hậu bởi: “Khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống các Thiên thần trên trời” (Mc12,25). Như vậy, ta có thể nói: Đời sống khiết tịnh là một ân huệ siêu nhiên, mà chỉ trong đức tin ta mới dễ chấp nhận và hiểu được lối sống này.

Nhưng rồi cùng với thời gian, với khoa học, các phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại, con người có điều kiện học hỏi, trao đổi, tìm hiểu về vũ trụ thiên nhiên vạn vật, nhất là học biết về chính mình, với những khả năng, những khác biệt về giới tính, về tâm sinh lý… Chính sự khác biệt này giúp ta biết được những điểm mạnh hay những giới hạn, để thăng tiến cũng như để bảo vệ chính mình. Thật ra về điểm này thì chỉ có ta mới biết rõ ta mà thôi. Chẳng hạn khi tiếp xúc với một người nam, ta biết được cảm xúc của ta lúc đó thế nào, có bị hấp lực bởi người đó không? Hay ta xem cách cư xử, cách tiếp xúc của người ấy thế nào? Vì khi biết được giới hạn của mình và của người khác ta sẽ biết cách giải quyết cách chủ động hơn. Chính sự nhận biết và ý thức này giúp ta giữ và bảo vệ cùng sống đời khiết tịnh cách dễ dàng. Nhưng chỉ có sự hiểu biết về mình và về người khác thì chưa đủ mà còn do môi trường và hoàn cảnh sống của ta nữa. Chẳng hạn, khi sống ở một môi trường mà người ta còn quý trọng những người thánh hiến, quý trọng sự thanh khiết, ta có thêm động lực giúp ta ý thức và cố gắng bảo vệ sự khiết tịnh của ta, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của chính ta.

Một phương thế khác hữu hiệu giúp ta bảo vệ đức khiết tịnh mà chính Chúa Giêsu đã nói: “Không có Thầy anh em chẳng làm gì được”, nghĩa là ta phải có đời sống kết hợp với Chúa qua việc học hiểu, đọc Lời Chúa, qua đời sống cầu nguyện, năng lãnh các Bí tích. Ta không làm được gì nếu không có ơn Chúa, cho dù đó là sự tự do từ bỏ, sự tự hiến của chính ta.

Một yếu tố nữa cũng nâng đỡ đời sống khiết tịnh của ta đó là đời sống huynh đệ cộng đoàn. Thường nơi người nữ, nhu cầu yêu và được yêu rất quan trọng đối với họ. Chính vì vậy, khi sống một mình mà không kết hôn thì tự nó đã làm ta không có sự cân bằng về tình cảm. Nên khi sống trong cộng đoàn biết yêu thương, chia sẻ, nâng đỡ cảm thông giữa chị em với nhau, nó sẽ giúp ta lấy lại được thế quân bình. Khi chị gặp khó khăn trong công việc, hay có chuyện trong gia đình, em đến bên trò chuyện, chia sẻ nói lên suy nghĩ của mình; khi thấy chị buồn và muốn được chia sẻ khó khăn, em đến với chị để hiểu, cảm thông và nâng đỡ chị hay chí ít là cầu nguyện cho chị. Hoặc khi em gặp khó khăn trong đời sống thiêng liêng, trong vấn đề phái tính, em chia sẻ cho chị, để chị có thể cùng giúp em giải quyết, cùng giúp em tìm ra điểm yếu, tìm ra nguyên nhân, giúp em vượt qua khó khăn và khủng hoảng.

Chính đời sống cộng đoàn yêu thương này giúp chị em cảm nhận được tình yêu thương của nhau, cảm nhận được cộng đoàn là mái ấm của mình mà không tìm tình yêu khác trong khi tất cả đều yêu thương mình.

Một thế mạnh khác nơi cộng đoàn đó là ta được sống, được vui vẻ với mọi người và cho dù đôi lúc ta có bực bội với một người, nhưng nó không làm cho ta mất đi niềm vui dâng hiến, vì ta còn có Chúa có chị em khác nâng đỡ ta, không như đời sống vợ chồng yêu thương nhau đã vậy, nhưng khi tức giận thì biết đi đâu, tránh đâu, ra vào đều giáp mặt nhau. Cũng vậy, khi ta sống với mọi người, qua tiếp xúc với mọi người, ta không thể nói ta không yêu họ, không biết bày tỏ tình cảm, đó là lời nói dối. Một người không biết yêu là một người không bình thường và không thể sống đời thánh hiến, tình yêu với người khác phái là một nhu cầu hết sức tự nhiên, nó như nam châm có một sức hút hết sức kỳ diệu. Nhưng nhờ tình yêu trong cộng đoàn mà ta cảm nhận được sẽ không làm ta dễ dàng lung lay theo tiếng gọi tình yêu khác.

Tuy nhiên, không phải chỉ trong đời sống cộng đoàn ta mới giữ được đức khiết tịnh và đời sống khiết tịnh giúp ta gắn bó với Chúa hơn. Nhưng trong đời sống sứ vụ tông đồ, đời sống khiết tịnh giúp ta được tự do phục vụ theo khả năng, tự do đến với mọi người mà không gặp trở ngại như khi lập gia đình bị ràng buộc bởi chồng con, bởi việc nhà. Chính đời sống khiết tịnh giúp ta tìm được niềm vui trong khi phục vụ, cùng làm việc với mọi người, mà không bị bó khung bởi môi trường gia đình.

* Những khó khăn
Cuộc sống thường có mặt trái mặt phải của nó, thế giới càng hiện đại, càng văn minh giàu có… thì đời sống khiết tịnh càng gặp nhiều khó khăn. Trước đây, khi còn nghèo đói, con người yêu thương, quan tâm, chia sẻ cho nhau miếng cơm manh áo và chỉ mong có cuộc sống ăn no mặc ấm. Giờ thì xã hội tiến triển, nhu cầu tăng cao, không còn là ăn no mặc ấm nữa, mà là ăn ngon mặc đẹp, và cao hơn nữa là ăn sang mặc mốt. Chính vì thế mà các cửa hàng mỹ phẩm, tái tạo sắc đẹp, cửa hàng thời trang… mọc lên như nấm, khiến người ta không thể không làm đẹp, ngay cả một số nữ tu cũng tỉa tót lông mày mí mắt… không ai cấm chúng ta không được làm đẹp, nhưng làm đẹp thế nào cho xứng hợp, không có chuyện ăn mặc đua theo mốt, ta hãy nhớ rằng: “không bán hàng thì đừng rao bán”. Nói như thế, có chị cho rằng không phải cứ trang điểm hay ăn mặc diêm dúa là… nhưng xét cho cùng thì không ai thích làm đẹp mà chỉ để một mình mình ngắm cả.

Và cũng chính vì các nhu cầu tiến triển, các phương tiện Intenet, điện thoại di động, xe máy thời @... ngày càng hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu con người. Chúng là những phương tiện rất hữu ích cho con người. Nhưng chúng chỉ tốt cho những ai biết sử dụng chúng chứ không phải để ra oai, để tạo những mối quan hệ không lành mạnh, để truy cập những tin tức vô bổ. Riêng với người tu sĩ, xe máy, điện thọai di động ngày nay không mấy khó khăn, nhưng xem ra cũng dễ trở thành vật cản khi tu sĩ quá chú trọng, chỉ giữ cho riêng mình, chỉ sử dụng chúng tìm lợi cho mình. Đây là vấn đề chúng ta cần quan tâm, sử dụng tự do như thế nào cho hợp với tư cách là một tu sĩ chứ không phải như một người ngoài đời.

Dẫu vậy, đối lại xem ra cũng có một số Bề trên nghĩ rằng nếu để con em mình tiếp cận các phương tiện hiện đại, chúng sẽ mất ơn gọi hoặc thấm nhiễm bên ngoài quá nhiều dẫn đến khó đào tạo. Điều này cũng tốt, nhưng nếu cái gì cũng cấm thì các em dễ tò mò và tìm cách thử tiếp cận xem sao, cho dù khi đó chưa có sự chuẩn bị tinh thần về sự phán đoán, về trí thông minh, về lập trường của sự trưởng thành, các em sẽ dễ vấp ngã. Và lúc đó có hối thì cũng đã muộn vì vô tình đánh mất một ơn gọi, bởi vì bề trên chỉ cấm mà không cho biết lý do, và giải thích cho con em mình hiểu được giá trị mà các phương tiện đó đem lại.

Đàng khác nơi môi trường xã hội Việt nam hôm nay, phong trào Âu hóa đã và đang thấm nhiễm vào từng ngóc ngách cuộc sống của con người. Nhu cầu được hưởng thụ, thích sống tự do thoải mái, không thích lệ thuộc của con người hôm nay nhất là các bạn trẻ, nhiều người trong họ có xu hướng lập gia đình, nhưng vẫn quan hệ và thích sống thử. Do đó đời sống khiết tịnh không còn được quan tâm, được chú trọng và ca ngợi. Điều này đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến các linh mục, tu sĩ. Họ bị chao đảo lý tưởng dâng hiến vì nhu cầu hưởng thụ, yêu và được yêu. Và rồi nếu đời sống cộng đoàn, nhu cầu mục vụ thiếu vắng tình huynh đệ, thiếu vắng sự quan tâm, khích lệ càng làm cho người ta cô đơn, cộng với đời sống thiêng liêng sa sút, người ta càng dễ tìm về bản năng của mình. Vậy đâu là hướng để các linh mục tu sĩ can đảm, cương quyết dấn thân trong ơn gọi của mình?

* Hướng giải quyết
Để giúp người thánh hiến sống tốt đời sống khiết tịnh hôm nay, chúng ta cần lưu ý một số điểm thực hành khiết tịnh:

Đề cao sự kín đáo, e lệ nhất là với phái nữ. Muốn có sự kín đáo ta phải canh phòng các giác quan và con tim, đặc biệt thị giác và xúc giác. Nhưng cũng đừng quá khắt khe, đến nỗi không biết cảm giác là gì? Thánh phaolô nói: “Mọi sự trong sạch với người trong sạch”. Một người càng có ý chân thành bên trong thì sự kín đáo đoan trang càng được bảo đảm, dù với ngoại cảnh nào.

Đừng để con tim có thể hướng về những đối tượng khác giới, hay bị dồn nén tình cảm dẫn đến mất quân bình. Để tránh mối nguy hại đó, ta nên tránh sự kết nghĩa riêng, dễ làm mất sự khiết tịnh và cản trở cho việc nên trọn lành. Muốn vậy, nơi cộng đoàn chị em phải yêu thương nhau, đoàn kết, tôn trọng và nâng đỡ nhau.

Huấn luyện ý chí và huy động những phương tiện thiêng liêng: ham thích cầu nguyện, năng lãnh nhận các bí tích, có sự hãm mình thân xác. Chia sẻ cho nhau những khó khăn trong đời sống cộng đoàn, tông đồ, nhất là những cám dỗ về đức khiết tịnh.

KẾT LUẬN
Tóm lại ba lời khấn có mối tương quan mật thiết không tách rời nhau. Chúng là nền tảng để người tu sĩ sống trung thành trong ơn gọi của mình, cho dù cuộc sống có xô bồ, đời sống khiết tịnh không còn được tôn trọng mà thay vào đó là tiền của, địa vị, danh vọng, nhu cầu thỏa mãn tính dục hoặc sự thay đổi nơi môi trường hoàn cảnh sống. Trái lại, nếu thiếu một trong ba lời khấn, đời sống của người tu sĩ sẽ bấp bênh, dễ bỏ cuộc. Đàng khác, để sống đức khiết tịnh cũng đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực bỏ mình của bản thân cộng với ơn Chúa nữa, mới có thể thích ứng với xã hội mà không đánh mất bản chất tu sĩ.



[2]
DẪN NHẬP

Khi thấy các môn đệ quá lo lắng về của ăn áo mặc, lo thu tích của cải vật chất ở đời này, Chúa Giêsu đã kêu gọi: “trước hết phải lo tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, rồi mọi sự khác sẽ được ban thêm cho” (Mt 6,33). Các tu sĩ đã đáp lại lời mời gọi đó qua việc tuyên khấn.

Công đồng Vatican II cũng khẳng định rằng: “Đời sống thánh hiến là bậc sống được thiết lập do việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm”. Được thánh hiến là thuộc về Thiên Chúa – người thánh hiến là hiến dâng mình cho Thiên Chúa để thuộc trọn về Người. Vì thế người tu sĩ phải luôn ý thức rằng mình đã được Thiên Chúa chiếm hữu, tuy còn sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, ngay từ bây giờ họ là công dân Nước Trời.

Để nhanh chóng tiến về với Thiên Chúa là Cha, người tu sĩ chọn lấy các lời khuyên Phúc Âm làm nền tảng căn bản cho đời sống của họ. Lời khuyên Phúc Âm thì có nhiều, nhưng theo truyền thống thì có ba: Khiết tịnh – Khó nghèo và Tuân phục, tiêu biểu hơn cả trong lối sống của Đức Giêsu.

Bàn về các lời khuyên Phúc Âm trong đời sống thánh hiến là một đề tài sâu rộng và thiết thực, dưới đây chúng con xin trình bày về tương tác giữa ba lời khấn. Những thuận lợi, những khó khăn đặc biệt của lời khấn khiết tịnh trong bối cảnh của Giáo hội và xã hội Việt nam hôm nay.

NỘI DUNG

Đời sống thánh hiến nhằm noi gương và kết hợp với Chúa Giêsu trong việc thờ phượng và yêu mến Chúa Cha. Chính Chúa Giêsu đã biểu lộ sự thờ phượng và yêu mến Chúa Cha một cách trọn vẹn trong của lễ tự hiến trên thập giá. Người tu sĩ cũng tự hiến mình một cách dứt khoát cho Thiên Chúa để hoàn toàn thuộc về Người. Hành động tự hiến đó được thực hiện qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm: Khiết tịnh – Khó nghèo, và Tuân phục. Các lời khuyên đó có tương tác với nhau thế nào trong đời sống thánh hiến?

1. Tương Tác Giữa Ba Lời Khấn

Trong đời sống tu trì, đức ái được nổi bật là nhờ các lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục. Ba lời khấn đó có xuất xứ từ giáo lý và gương lành của Chúa Kitô: Chúa Kitô đã nêu gương khiết tịnh và kêu mời mọi người sống khiết tịnh theo mức độ của đoàn sủng mình. Chúa Kitô là hiện thân của sự khó nghèo, vì thế Ngài muốn mọi người sống khó nghèo như Ngài, đặc biệt là những ai dấn thân trong đời sống tận hiến. Đức vâng phục là phương thế duy nhất để Ngài thực hiện công cuộc cứu chuộc nhân loại.

Các lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục, tương đương với ba thứ “tình, tiền, tài” đang là mục tiêu mà nhiều người trong thời đại này mong ước và tìm mọi cách để chiếm hữu. Với cái nhìn tiêu cực thì khi tuyên khấn ba lời khuyên Phúc Âm, người tu sĩ từ chối chính mục tiêu mà người đời tìm kiếm. Nhưng dưới lăng kính đức tin thì khi khấn giữ ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục, người tu sĩ được yêu và yêu nhiều hơn, họ được Chúa yêu, mọi người tôn trọng, yêu mến; ngược lại họ cũng yêu mến Chúa và yêu mọi người, được sở hữu một kho tàng lớn hơn là chính Nước Trời, được phát triển tài năng dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần và được bảo vệ bằng các rào chắn là luật dòng và bề trên hợp pháp của mình. Sự quan phòng đó bảo dảm cho sự sống đời đời.

Các lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục làm nên và bao trùm toàn bộ đời sống của người tu sĩ trên mọi bình diện, từ vật chất tới tinh thần và trong mọi tương quan. Giáo hội cũng coi con đường khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm là phương thế đặc biệt để cổ võ đức ái trọn hảo đối với Thiên Chúa và tha nhân. Mối kẹp ba giữa các lời khuyên Phúc Âm tóm kết và diễn tả những khát vọng về tình yêu tuyệt hảo và sự tháp hợp trung thành hơn với Thiên Chúa. Nhờ việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm mà sự trọn lành đức ái của người thánh hiến đạt đến sự viên mãn. Ngược lại đời sống thánh hiến sẽ không trọn hảo khi thiếu một trong ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục.

Trên đây là những dẫn chứng nhằm khẳng định rằng sự có mặt đầy đủ của ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục mới làm nên đời tu và không thể thiếu một lời khấn nào trong cuộc đời của người tu sĩ. Vì mỗi lời khấn trình diện một vẻ đẹp khác nhau của đời sống thánh hiến và sự hiện diện đầy đủ của ba lời khấn mới làm nên đời tu hoàn hảo.

Đi vào hoàn cảnh cụ thể chúng ta mới thấy rõ hơn sự tương tác giữa các lời khấn. Khi tuân giữ đức Khiết tịnh người tu sĩ không lo tìm kiếm của ăn áo mặc để làm đẹp thể xác, do đó bớt đi việc tiêu xài tiền bạc, đồng thời cũng không lỗi lời khấn vâng phục trong việc sử dụng của cải cách trái phép; khi thực hành sống khó nghèo, người tu sĩ giản lược nhu cầu làm đẹp thể xác tránh dịp tội cho mình và cho người xung quanh, đồng thời tạo được sự điều độ trong ăn uống, tránh những kính thích dục vọng dễ làm thiệt hại cho đời sống khiết tịnh; còn khi thực hành đức Tuân phục là chúng ta thực hành luôn cả đức Khiết tịnh và Khó nghèo.

Như vậy ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục luôn gắn bó, bảo vệ và tác động lên nhau làm cho đời sống thánh hiến trở nên thánh thiện hơn, góp phần làm cho vườn hoa muôn màu của Giáo hội được thêm phong phú.

2. Những Thuận Lợi và Không Thuận Lợi Của Lời Khấn Khiết Tịnh trong Bối Cảnh Giáo Hội và Xã Hội Việt Nam

Công đồng Vaticanô II trong bản văn soạn thảo chương IV hiến chế về Giáo hội đã kể ra ba lời khuyên Phúc Âm theo truyền thống Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng phục, nhưng thứ tự này trong bản văn chính thức đã được đổi lại như sau: Khiết tịnh, Khó nghèo và Vâng phục. Như thế, Công đồng muốn cho chúng ta nhận thấy tầm quan trọng hàng đầu của đức Khiết tịnh, và qua đó Công đồng mời gọi các tu sĩ hãy coi đức Khiết tịnh là lời khuyên có tính quyết định nhất trong việc lựa chọn bậc sống của mình.

Đức Hồng y Leger trong bài phát biểu ngày 30/10/1963 tại Công đồng đã đề cao đức Khiết tịnh bằng những lời lẽ quả quyết hùng hồn rằng đức Khiết tịnh có một chỗ đứng đặc biệt cao trọng trong Thánh kinh và Thánh truyền. Các văn kiện từ trước tới nay của phụng vụ cho thấy đức Khiết tịnh và Phúc Tử Đạo được đặt ngang nhau, và theo một số tác giả khác thì chỉ mình đức Khiết tịnh cũng đủ làm nên đời thánh hiến.

a) Tìm Hiểu về Lời Khấn Khiết Tịnh
Khiết tịnh là hồng ân của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời gọi ai thì đó là hồng ân của Ngài ban cho họ. Hồng ân ấy nói lên sự tuyển chọn của Thiên Chúa và hồng ân Khiết tịnh là ơn ban nhưng không được Chúa Cha ban cho một số người chứ không phải ban cho tất cả mọi người, chỉ những ai được hồng ân này mới hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa. Ý tưởng này đã được minh định trong Tin Mừng của thánh Matthêu chương 19 câu 11: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu, mới hiểu”.

Đức Khiết tịnh thánh hiến được đồng hóa với đời sống độc thân là một phương thế mới mẻ và tuyệt vời để con người được tận hiến cho Chúa Kitô, được thông phần vào cuộc sống và sứ vụ của Ngài. Chúa Kitô cũng là nguồn mạch và cùng đích của đức Khiết tịnh thánh hiến, mà đức Khiết tịnh lại đặt nền tảng trên sứ mạng tư tế của Chúa Kitô – Đấng trung gian giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại. Trong sự hòa hợp trọn vẹn này, Chúa Kitô đã sống trọn cuộc đời của Ngài trong bậc trinh khiết, một bậc sống thể hiện sự dâng hiến trọn vẹn để phụng sự Thiên Chúa Cha và nhân loại. Do đó, việc người tu sĩ tận hiến tình yêu và thân xác cho Thiên Chúa cũng là một chứng tá sống động về niềm tin vào những giá trị siêu nhiên đồng thời cũng là một tiên trưng cho đời sống mai hậu – lúc đó người ta không còn dựng vợ gả chồng (Mt 22,30).

Đời sống khiết tịnh là một chứng tá, nhưng đồng thời cũng là một động lực khích lệ, mời gọi hãy gắng đạt được sự tự chủ nhiều hơn về tâm trí và thân xác, một điều cần thiết cho hết mọi người, kể cả những người sống bậc gia đình, nhưng cần thiết hơn cho người tu sĩ.

Đời sống Khiết tịnh là một phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ. Có thể nói rằng có một mối tương giao gần gũi giữa đời sống độc thân thánh hiến với việc tông đồ. Vì khi tuyên khấn Khiết tịnh vì Nước Trời người thánh hiến khước từ tình yêu đôi lứa, tình yêu chiếm hữu người bạn đời và những đứa con (nếu có), nhưng lại mở cửa cho tình yêu đại đồng tăng triển phong phú hơn và quảng đại chia sẻ tình yêu cho tha nhân cách vô vị lợi.

b) Những Thuận Lợi và Không Thuận Lợi của Lời Khấn Khiết Tịnh trong bối cảnh Giáo Hội Và Xã Hội Việt Nam Hôm Nay.

Giáo hội sống trong xã hội nên ảnh hưởng rất nhiều những trào lưu của xã hội. Như thế đức Khiết tịnh thánh hiến trong Giáo hội cũng chịu tác động của rất nhiều những yếu tố tốt – xấu do thời đại xã hội đem lại. Trong xã hội Việt nam hôm nay lối sống độc thân đang là yếu tố làm cho người tu sĩ khác với những ơn gọi khác và cũng là dấu chỉ để nhận biết được người đó có phải là tu sĩ không, hay nói cách khác đời sống Khiết tịnh là thẻ căn cước của tu sĩ đối với mọi người. Bên cạnh đó đời sống Khiết tịnh có giá trị cao quý được Giáo hội ghi nhận và xã hội tôn trọng. Đây là động lực thuận lợi cho việc phát triển và thăng tiến đời sống Khiết tịnh.

Tuy nhiên nhìn vào xã hội Việt Nam hôm nay những giá trị cao quý của đức Khiết tịnh dường như không được nhìn nhận mà còn bị một số những giá trị thế tục lấn át. Ngày xưa Khiết tịnh được coi như khuôn vàng thước ngọc để đo phẩm giá của người phụ nữ, nhưng ngày nay trong thời buổi “hội nhập văn hóa”; thời buổi của “khoái lạc điên cuồng”; của “lạm dụng tự do” và trong một thế giới có quá nhiều lối mở để chọn lựa thì đức Khiết tịnh là một thứ yếu trong xã hội. Hầu như trước mắt chúng ta không nhìn thấy được môi trường thuận lợi cho việc nuôi dưỡng đời sống Khiết tịnh mà chỉ nhìn thấy những khó khăn trong việc bảo vệ đức Khiết tịnh.

Sau đây là một vài những lý do làm cản trở cho đời sống Khiết tịnh trong xã hội Việt Nam hôm nay: trước hết phải kể đến vấn đề “hội nhập văn hóa”, việc hội nhập văn hóa trong thời gian qua của Việt Nam đem lại những đổi thay lớn lao cả về tinh thần lẫn vật chất cho xã hội và con người. Nhưng việc hội nhập đó cũng du nhập vào Việt Nam không ít những tệ nạn làm ảnh hưởng không tốt đến giới trẻ, hủy hoại một số những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chẳng hạn như ngày xưa quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” nhưng ngày nay thì nếp nghĩ đó đã đổi thành “nam nữ thụ thụ rất thân” hay ngày xưa coi “cái nết đánh chết cái đẹp” nhưng ngày nay nhiều người cho rằng “cái đẹp đè bẹp cái nết” và còn rất nhiều những tiêu chuẩn khác bị thay đổi. Những cái đó làm cho đức Khiết tịnh bị coi nhẹ và thiếu ý thức bảo vệ. Song song với vấn đề hội nhập văn hóa thì lối sống hưởng thụ cũng là nguyên nhân sâu xa làm cản trở cho đời sống khiết tịnh. Chính tư tưởng vô thần đã làm cho nhiều người, nhất là giới trẻ không có quan niệm về sự sống đời sau. Do đó họ lo tìm thỏa mãn bản năng tính dục và hưởng thụ ở đời này.

Việc đề cao nhân quyền một cách thái quá cũng ảnh hưởng không tốt đến đời sống khiết tịnh của con người nói chung và của người tu sĩ nói riêng. Thật vậy do hiểu sai về luật tự do nhân quyền, nhiều người trẻ đã sống thử trước hôn nhân (tiền dâm hậu thú), họ cho rằng đó là quyền tự do của họ và coi hành vi cấm hưởng thú vui phái tính là bất nhân, là đi ngược với bản tính con người. Do đó, họ khinh chê, coi thường những người sống độc thân khiết tịnh, họ cho rằng những người đó là người lập dị, là đi ngược dòng đời.

Bên cạnh đó, xã hội hiện nay có rất nhiều bậc thang giá trị để chọn lựa, khi đã chọn cái này thì sẽ phải mất cái khác, nhiều lúc những giá trị chóng qua mau hết lại hấp dẫn hơn những bậc thang giá trị vĩnh cửu làm cho người ta nhầm lẫn khi chọn lựa. Chẳng hạn như một cô gái lương thiện làm công nhân vất vả cả tháng trời cũng chỉ lãnh được tiền lương hơn 1 triệu đồng, còn một cô gái bán hoa “ngồi mát ăn bát vàng” có khi một lần đánh đổi trinh tiết phẩm giá của mình cũng có được cả mấy triệu đồng.

Ngoài những nguyên nhân xã hội vừa kể trên thì trong cộng đoàn Giáo hội đôi khi do nhu cầu mục vụ, cũng ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống khiết tịnh. Tại các môi trường Giáo xứ đa số đòi hỏi các tu sĩ phải đàn, hát, múa giỏi, sinh hoạt giáo xứ cũng phải thế này thế kia. Để thỏa mãn được lòng dân và gây được tiếng vang ở đời nhiều tu sĩ đã dốc hết tâm lực, thời gian để trau dồi những khả năng, những kiến thức đó mà bớt xén và đôi khi lơ là hoặc thậm chí bỏ cả cầu nguyện, thiếu tình liên đới trong cộng đoàn dẫn đến lỗi lời khấn Khiết tịnh khi nào mà chẳng hay. Vì lời khấn Khiết tịnh được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện và được bảo vệ bằng tình thân ái trong cộng đoàn.

Trên đây chỉ là một số trong vô vàn những nguyên nhân gây bất lợi cho đời sống Khiết tịnh thánh hiến. Vấn đề là người tu sĩ phải biết nhận định và tỉnh thức trước những cám dỗ cuộc đời, phải cố gắng vươn lên, không ngừng bảo vệ căn tính đời tu của mình, phải như hoa sen vươn mình lên từ trong bùn nhơ tỏa hương thơm cho đời.

c) Thực Hành và Bảo Vệ Đức Khiết Tịnh

Công đồng Vaticanô II coi lòng biết ơn về hồng ân Khiết tịnh là một hành vi bảo vệ nhân đức ấy, do đó Công đồng mời gọi các tu sĩ hãy có một tâm tình biết ơn về hồng ân họ đã lãnh nhận, tin tưởng vào Chúa, tín thác vào ơn Chúa nâng đỡ, vui tươi thanh thản trong quyết định, trung thành nỗ lực không ngừng và quảng đại sống hồng ân Khiết tịnh đã được ban tặng. Để đạt được những mục đích đó, người tu sĩ phải tránh xa những gì đe dọa đức Khiết tịnh và đồng thời liên lỉ gia tăng mối tương quan tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân vì Chúa.

Việc thực hành đức Khiết tịnh luôn đòi hỏi phải có một đời sống thần hướng mạnh mẽ, không ngừng phấn đấu với đức tin, cậy, mến; tinh thần này sẽ gạt bỏ đi được bất cứ hoàn cảnh nào gây nguy hại cho đời sống Khiết tịnh.

Đức Khiết tịnh giúp ta cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa một cách gần gũi hơn, phấn khích ta chuyên tâm hơn đến những công việc của Chúa và thực hiện những ý định của Người. Do đó người sống đời khiết tịnh thánh hiến quyết ra đi gặp gỡ tha nhân trong tinh thần phục vụ, kiến lập tình thân như trong một gia đình với mọi người, đặc biệt là những người khốn khổ, bệnh tật bị bỏ quên. Tình yêu siêu nhiên này làm nhẹ bớt những gánh nặng do việc từ bỏ và dẫn đến một tình thân ái không dựa trên động lực nhân loại ích kỷ, nhưng dựa trên một tình thân thánh thiện phản ảnh tình yêu Thiên Chúa.

Khiết tịnh là đỉnh cao thánh thiện của tình yêu giữa con người với con người và được biểu lộ trong tình hữu nghị, thân mật, nhân ái và tin tưởng lẫn nhau, đồng thời đó cũng là nguồn bảo vệ và nuôi dưỡng đức ái huynh đệ.

Người tu sĩ phải luôn ý thức bảo vệ đức Khiết tịnh của mình bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng hai phương pháp thuộc lãnh vực tu đức và phương thế siêu nhiên. Về lãnh vực tu đức, biết nghi ngờ chính mình (con người bị tổn thương do tội nguyên tổ), khổ chế, canh phòng giác quan và tình cảm, tránh xa những dịp nguy hiểm, và phải hiểu biết đầy đủ những mối nguy hiểm đe dọa nhân đức này. Phương thế siêu nhiên quen thuộc và hiệu nghiệm nhất đó là việc siêng năng lãnh nhận các Bí tích, sống nội tâm, cầu nguyện theo gương Mẹ Maria và bồi dưỡng cho đức Khiết tịnh bằng việc luôn chiêm niệm các mầu nhiệm về Chúa Kitô, tình yêu mật thiết với Thiên Chúa.

Bên cạnh đó sự thông cảm, kính trọng và yêu thương nhau giữa các phần tử trong cộng đoàn sẽ tạo nên một sức mạnh không gì có thể thay thế được, giúp người tu sĩ vượt qua những cám dỗ của sự chán chường, cô đơn và ngăn ngừa được nguy hiểm kiếm tìm bù trừ trong những giao tiếp với người ngoài. Phải có một thời khóa biểu hợp lý để làm việc, nghỉ ngơi, một chế độ dinh dưỡng đầy đủ, tuân giữ các nguyên tắc vệ sinh cũng có thể ngăn ngừa và giúp tu sĩ vượt thắng được nhiều khó khăn trong đời sống thánh hiến.

KẾT LUẬN

Trên đây là một tiểu luận nhỏ chủ yếu xoay quanh vấn đề về lời khấn Khiết tịnh, do nhiều nguyên nhân mà giá trị của lời khấn này không được nhìn nhận và bảo vệ, đó là nguy cơ làm ơn gọi thánh hiến của Giáo hội bị giảm sút trầm trọng và làm cho cánh đồng lúa chín của Giáo hội thiếu nhiều thợ gặt, với những bàn tay rành nghề. Vì thế Giáo hội luôn khẩn thiết kêu mời các tu sĩ dùng chính phương tiện là các lời khấn, nhất là lời khấn Khiết tịnh để làm chứng cho Chúa trong trần gian này, hầu khơi gợi lên trong lòng các bạn trẻ sự quảng đại dấn thân cho Tin Mừng, theo con đường tận hiến bằng việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục để nên giống Chúa Giê-su hơn, thánh hóa chính mình và tha nhân, đồng thời khẳng định đặc tính “thánh thiện” của Giáo hội Công giáo trong một thế giới đa tôn giáo hôm nay.



[3]

DẪN NHẬP

Câu truyện kể như sau: Một hôm người bố nói với cậu con trai: con hãy nhớ mọi lời nói, hành động của con đều phải làm theo như thầy giáo đã dạy cho con, cậu con trai ngây thơ dễ thương tỏ vẻ tuân lời. Một dịp kia, nhân ngày sinh nhật cậu bé được cùng đồng bàn ăn cơm với thầy giáo, cậu chú ý nhìn và làm theo tất cả các động tác của thầy giáo, thầy giáo ăn như thế nào cậu bé cũng ăn như vậy, thầy giáo uống như thế nào cậu bé cũng uống như thế, thầy giáo chuyển mình, cậu bé cũng làm theo. Thầy giáo nhìn cậu bé cứ làm theo bắt chước mình thì cười thầm trong miệng và hắt xì một cái, cậu học trò cũng làm theo, nhưng cố thế nào cũng không thể hắt xì được, cuối cùng hết cách, cậu bé liền cúi đầu thật sâu trước mặt thầy giáo, hổ thẹn, ray rứt và nói “chỗ kỳ diệu của thầy thực là khó học quá.” Cũng vậy: mục đích của những người muốn sống đời Thánh hiến là trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu: nên trọn lành, họa lại mẫu gương của Chúa Kitô, như cậu bé nói trên đã cố bắt chước mọi hành động của thầy giáo mình.

Tiếp đến là Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh nam nữ; dấu chỉ này được diễn tả qua cuộc sống và tuân giữ Ba Lời khuyên Phúc Âm, qua việc hiến dâng cho một mình Thiên Chúa trái tim không bị chia sẻ.

Tuy nhiên trong bối cảnh xã hội Việt nam nhiều biến động với các trào lưu hưởng thụ dẫn đến sự xuống dốc của các giá trị đạo đức luân lý. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống Thánh hiến, đặc biệt với hàng ngũ Tu sĩ trẻ. Đây là một đề tài rộng lớn cũng là thao thức của Giáo Hội nói chung và những người Thánh Hiến nói riêng. Phạm vi bài này chỉ đưa ra vài suy tư về sự tương tác giữa Ba Lời khấn, cũng như những khó khăn và thuận lợi cho lối sống Thanh Khiết trong bối cảnh Giáo Hội và xã hội Việt Nam hôm nay.

I. TƯƠNG TÁC GIỮA BA LỜI KHẤN KHIẾT TỊNH, KHÓ NGHÈO và VÂNG PHỤC.

Để sống đời Thánh hiến một cách trọn vẹn, tốt đẹp và sinh nhiều hoa trái, cũng như để vượt qua những khó khăn thách đố trong ơn gọi tu trì, thiết nghĩ, tiên vàn phải xác định rõ căn tính của đời sống Tu trì là hoàn toàn hiến thân để sống Tin Mừng một cách trọn vẹn và triệt để, bằng việc tự nguyện thề hứa sống Ba Lời Khấn công khai, được Giáo Hội chuẩn nhận một cách hợp pháp.

1. Đức Thanh khiết

Khuynh hướng bẩm sinh của con người là muốn yêu và được yêu, vừa mang tính ích kỷ muốn chiếm hữu đối tượng, vừa có thể sống tình yêu bằng một lối sống hoàn toàn quên mình và không cần thể hiện bằng hành vi tính dục. Nhưng đức Khiết Tịnh vì Nước Trời mà các Tu sĩ khấn giữ hôm nay phải được hiểu và quý trọng như Ân huệ cao cả Thiên Chúa ban cho nhân loại. Với đời sống khiết Tịnh, người Tu sĩ dâng hiến cho Thiên Chúa khả năng yêu thương của mình để thuộc trọn về Chúa cả hồn lẫn xác, để đạt tới sự thánh hóa bản thân và mưu ích cho tha nhân cách dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, lời khấn khiết Tịnh không che lấp được những dòn mỏng yếu đuối tự nhiên của một con người như Thánh Phaolô nói: “nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải tự chúng tôi” (2 Cr 4,7). Vẫn còn đó những yếu đuối, những rung cảm yêu thương, xúc động của một con tim bằng thịt. Vì thế, người Thánh hiến phải luôn ý thức mình được hiến dâng cho Chúa cả hồn lẫn xác trong đó có tình yêu phái tính, tất cả phải hướng tình yêu về Chúa. Điều này đòi hỏi phải có sự trưởng thành về toàn thể tâm sinh lý, phải phấn đấu không ngừng để làm chủ thân xác, tâm hồn và tình cảm của mình.

2. Đức Khó nghèo

Để tự tin hơn trong khi phấn đấu sống Khiết tịnh, người Tu sĩ không quên có một lối sống là hàng rào bảo vệ, đó là lối sống Khó nghèo theo gương Chúa Giêsu. Đây là điều kiện để được nên trọn lành và được theo Chúa: “nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Người Tu sĩ bắt chước bước theo Đức Kitô, là mẫu gương về đức khó nghèo. Từ chính cuộc đời và những lời giảng dạy của Ngài, chúng ta có thể xác định rằng, cái nghèo mà người Tu sĩ nguyện sống theo không phải chỉ là cái nghèo sở hữu mà còn phải là cái nghèo trong chính hiện hữu tức là chẳng những không có, mà còn không muốn tiền bạc, của cải, chức quyền, địa vị, tiện nghi, lợi lộc; không phải là cái nghèo vật chất mà còn phải là cái nghèo tinh thần, tình cảm nữa, nghĩa là không phải không có tình cảm mà là tương đối hóa tất cả mọi tình cảm nhân loại, để chỉ quy chiếu về một tình yêu tuyệt đối, đó là tình yêu Thiên Chúa; không phải là cái nghèo về lợi ích cá nhân, mà còn là cái nghèo vì ích lợi cộng đoàn và Tông đồ, nghĩa là nếu chúng ta chỉ lo hoàn thiện bản thân mà không lo hoàn thiện tha nhân, chị em xung quanh mình là chưa phù hợp với tinh thần Tin Mừng.

Nghèo khó tu sĩ là tự mình khước từ của cải vật chất, để tâm hồn thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất là thứ chóng qua hầu được tự do kết hợp với Chúa hơn, sự nghèo khó được Chúa chúc phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Mt 5 3). Người giàu có mà không bị mê hoặc bởi việc tiêu xài hưởng thụ cũng làm đẹp lòng Chúa, bởi vì họ đã “tìm Nước Thiên Chúa trước,” biết lấy Chúa làm kho tàng quý giá của họ. Khi sống tinh thần nghèo khó, chúng ta có thể chia sẻ với người nghèo khó, với chị em thiếu thốn, chị em thất vọng, chị em lầm lỡ…một cách dễ dàng và đồng cảm. Bởi chúng ta sống phó thác trọn vẹn cho Chúa, không quá lo cho ngày mai, không sống xa xỉ và khi đó chúng ta có thể làm chủ được cả tình cảm, tương quan cách quân bình và sẽ mở lòng ra với Chúa và với mọi người.

Người thánh thiến sống nghèo khó để bắt chước bước theo Đức Kitô trong niềm tin tưởng phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; bước lại trong thời đại hôm nay những bước mà Ngài đã đi ngày xưa, trong cuộc hành trình liên tục không bao giờ chấm dứt để loan báo Tin Mừng. Chúng ta cũng phải sống thế nào để mọi người nhận biết Đức Kitô và Thiên Chúa nơi chính con người của mình.

3. Đức Vâng phục

Mỗi người chúng ta được mời gọi thực hiện ý Chúa trong cuộc sống Dâng hiến hôm nay với đức Vâng phục. Người tu sĩ khấn Vâng phục phải ý thức rằng mình đang nối dài sự hiện diện và sứ mạng của Đức Kitô giữa trần gian trong khuôn khổ cộng đoàn, bởi vì cả cộng đoàn cũng như từng thành viên đều phải thực thi ý Chúa và diễn tả sự hiện diện của Ngài trong chính cuộc sống mình đang sống. Như vậy, Vâng phục không phải là phương thế để người dưới sống khổ hạnh, cũng không phải là chuẩn mực để bề trên kiểm soát hay ra lệnh, để có một trật tự chung, để điều hành tổ chức sinh hoạt đối nội đối ngoại, mà đức Vâng phục đời tu trì mang đậm nét độc đáo và sâu sắc hơn nhiều: đó là cùng nhau tìm kiếm và thực thi ý Chúa, để Chúa đến hiện diện trong môi trường sống của gia đình cộng đoàn.

Thời đại hôm nay đề cao tính tự do của con người, đặc biệt tự do ý chí. Còn đối với đời sống thánh hiến, nếu ý chí không phục vụ lòng mến thì vô giá trị, nhờ lòng mến, ý chí chúng ta có khả năng mang lại hạnh phúc cho bản thân và tha nhân: nguyên tổ Ađam và Evà đã không biết sử dụng ý chí tự do để phục vụ lòng mến nên phải bất hạnh, nhưng ngược lại, Đức Giêsu đã mang lại sự sống và hạnh phúc cho nhân loại, vì Ngài đã biết hiến dâng ý muốn để làm trọn Thánh ý Chúa Cha. Công Đồng Vaticanô II đã nói: “các tu sĩ theo Chúa Ki tô Đấng Khiết Tịnh và khó nghèo bởi vâng lời cho đến chết trên thập giá”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết: “mọi công việc của Tu sĩ chỉ có giá trị cứu rỗi khi được thi hành trong đức Vâng phục”

Bởi vậy để đức Vâng phục được thực hành cách trọn hảo, chúng ta cần phải có đức tin mạnh mẽ để nhận ra ý Chúa qua bề trên, lại cần có ý chí để tuân hành cách vui tươi, mau mắn và bền lâu. Vâng lời vì đúng ý mình hay bắt bề trên chiều ý mình thì không phải là vâng lời đúng ý Chúa. Tuy nhiên, có thể trình bày và đối thoại cách đúng mức cho công việc đem lại hữu ích, rồi để mặc ngài định liệu, phải vâng lời với tinh thần trách nhiệm, lấy ý bề trên làm ý mình và chu toàn mệnh lệnh của ngài cách chu đáo.

Như thế, cả ba Lời Khấn đều đụng chạm đến những khuynh hướng căn bản của cuộc sống con người. Vì qua Ba Lời Khấn, người Tu sĩ dâng cho Chúa không những tài sản, mà khả năng yêu thương và tự do, để rèn luyện bản thân bằng những phấn đấu hy sinh, thực hiện một chọn lựa căn bản: tương đối hóa những của cải và giá trị trần gian; tương đối hóa những tình cảm nhân loại cũng như tương đối hóa tự do và ý riêng của mình. Ba Lời khấn vừa ràng buộc vừa làm cho mỗi Tu sĩ chúng ta được thực sự tự do. Hay nói cách khác chính khi ràng buộc mà lời khấn làm cho chúng ta được tự do trong tình yêu của Đức Kitô. Như vậy, khi sống ba lời Khuyên Phúc Âm, người Tu sĩ trình bày bức chân dung sống động của Đức Kitô: Vâng phục hướng dẫn con người sử dụng tự do và giúp khống chế thói kiêu ngạo, Khiết Tịnh giúp sống đúng đắn tình cảm và tình dục, còn Khó nghèo giúp chế ngự thói tham lam của con người.

II. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÔNG THUẬN LỢI

Nhìn vào thực tế tình hình Giáo Hội và xã hội Việt Nam hôm nay, ta thấy có khá nhiều cơ hội thuận tiện để người Tu sĩ diễn tả và chứng tỏ rõ nét tầm quan trọng và giá trị của đức Thanh khiết thánh hiến cho văn hóa xã hội và môi trường sống hiện thời. Nhưng cũng không thiếu những tệ nạn, mối đe dọa của thời đại tục hóa, cám dỗ và lôi kéo làm cho đức Thanh khiết nhiều lúc bị chao đảo, lung lay và dẫn đến những lầm lỡ không ngờ ngoài tầm kiểm soát bởi sự mỏng dòn yếu đuối của mỗi người.

1. Những thuận lợi

Nhìn một khía cạnh nào đó, xã hội chúng ta đã có công nghệ tiên tiến, đời sống tiện nghi đầy đủ, nhưng cũng có nhiều tệ nạn phát triển dường như song song. Tuy vậy, đời sống độc thân Khiết tịnh xem ra vẫn là một giá trị được coi trọng (với xã hội) được quý mến, thán phục (với Giáo Hội). Người ta coi bậc chân tu có một nét bí ẩn nào đó vô cùng linh thiêng, đến nỗi không cần giới thiệu mà người ta cũng nhận ra tu sĩ hay linh mục: sự thánh thiện như hiện rõ trên khuôn mặt, và cả con người họ, bởi vì họ đã là người của Chúa, đã bị Chúa chiếm đoạt. Ngoài ra, nhờ được đào tạo và với ơn Chúa, họ có khả năng thắng vượt những thèm muốn xác thịt tự nhiên để sống cho lý tưởng cao cả.

Trong nhãn quan Kitô giáo, đức Thanh khiết kiện toàn đời sống và là cách thức diễn tả tình cảm tính dục nghiêm túc và trọn vẹn. Người đời thường quan niệm và hiểu đức Thanh khiết như một sự bó buộc, kiêng giữ trong đời sống và hành vi tình dục. Dĩ nhiên, trong thực tế đời sống, những người sống Khiết tịnh đòi buộc phải nỗ lực hết mình trước những nhu cầu đòi hỏi của bản năng. Nhưng Khiết tịnh của bậc Thánh Hiến không chỉ là sự tiết chế, kiêng cữ mà là một nhân đức trổi vượt. Người sống ơn gọi vợ chồng, hay bậc Thánh Hiến đều được mời gọi sống Khiết tịnh theo bậc sống của mình. Sự Khiết tịnh bao gồm trọn vẹn đời sống con người, thành một htể thống nhất hài hòa giữa tâm hồn và thể xác, giữa cảm xúc và ngôn ngữ. Như vậy, Khiết tịnh không làm thui chột hay lu mờ đời sống chúng ta, nhưng làm cho viên mãn và có khả năng mở ra với mọi người và với vô biên nữa.

Nhìn ra bên ngoài xã hội hôm nay nhiều lúc chúng ta thấy ngợp khi sống đời sống Thanh khiết, đặc biệt với các Tu sĩ trẻ. Nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể tự tin diễn tả lối sống Thanh khiết bằng tình yêu mở rộng, sự quan tâm giúp đỡ những thành phần kém lòng tin giữa lòng xã hội trong môi trường sống Tông đồ. Các phương tiện truyền thông, khoa học kỹ thuật hiện đại đều là những dụng cụ thuận lợi cho việc cập nhật thông tin: những hình ảnh tuyệt vời về gương Thanh khiết giúp cho người Tu sĩ động lòng, còn về những hình ảnh bi kịch, thảm thương, đau khổ của lối sống chơi với tình cảm tình dục cũng phần nào báo động nhắc nhở và đánh thức sự đam mê yếu đuối của người Tu sĩ. Tuy nhiên, điều này rất đòi hỏi người sống Khiết tịnh cần có một đời sống trưởng thành thật sự về mặt tình cảm, một lối sống cư xử giao tiếp quân bình, sống hòa đồng nhưng không được để bị đồng hóa.

Đời sống cộng đoàn có vai trò quan trọng trong việc sống và giữ đức Khiết tịnh: khi ta bị cám dỗ mà không có chị em nhắc nhở, bảo ban thì ta rất dễ sa ngã, bởi không có lý do hay vật cản nào ngăn lối chúng ta, nhưng nhờ cộng đoàn nâng đỡ bảo vệ, nếu bị cám dỗ ta cũng có chị em thức tỉnh và giúp ta dừng lại đúng lúc.

2. Những khó khăn

Do bối cảnh chung quanh, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa này, trước khi vào dòng, người dự tu đã chịu ảnh hưởng của học đường, của xã hội, không được giáo dục về lối sống nhân bản cũng như lối sống tương quan, cộng thêm những hình ảnh xấu, những tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, những cách cư xử thiếu tình người của một số giảng viên đã in vào não trạng tâm lý của người Tu sĩ trẻ, nên bước vào đời sống Thánh Hiến mặc dù được đào tạo có vẻ kỹ càng, nhưng không thể xóa tan được những ấn tượng xấu. Do đó, mối nguy cơ sa ngã về đức Thanh khiết luôn đe dọa và sẽ làm cho vấp ngã trong bất cứ lúc nào nếu chúng ta không biết tự chủ và tin tưởng Chúa đang nhìn mình và mình là của Chúa.

Những vấp ngã có thể xảy ra, không nên cầu toàn và t quan trọng là rút ra bài học để lớn lên từ những vấp ngã đó. Nam tu hay Nữ tu đều có những khó khăn riêng do tâm sinh lý của từng giới. Vì thế, người huấn luyện cũng như các thành viên trong cộng đoàn cần phải thông cảm, nâng đỡ những anh chị em bị lầm lỡ, tránh phán đoán sai lệch và giúp họ vượt qua những yếu đuối do xác thịt của một con người.

KẾT LUẬN

Mỗi người chúng ta được mời gọi vào đời sống Thánh Hiến là triệt để đi theo Chúa Giêsu, nhằm biến đổi con tim nhân loại qua việc sống ba lời khuyên Phúc Âm Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục. Nhưng điều đáng cho chúng ta cần phải quan tâm hơn trong xã hội hôm nay là đời sống Khiết tịnh. Mỗi chúng ta cần phải đấu tranh cho một thế giới Khiết tịnh, vì thế gian ngày càng đề cao những tình cảm và hành động không lành mạnh. Chúng ta không chỉ phấn đấu và giữ gìn cho mình cũng như cho người khác khỏi những tình cảm thiếu trong sáng hay những hành động mất tình người, mà còn phải đi xa hơn tới mức đôi khi từ khước cả những tình cảm được phép như tình cảm gia đình bạn bè người thân, để vươn tới những tình cảm cao thượng, siêu nhiên hơn đó là tình yêu Đức Kitô. Điều đó diễn tả qua việc dấn thân cho sự nghiệp chung của Giáo Hội, của cộng đoàn, dấn thân vì người nghèo, người kém may mắn, người thiếu vắng tình cảm yêu thương. Tất cả để phục vụ chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Lời Khấn Khiết tịnh mang nhiều ý nghĩa quý giá: chứa đựng tình yêu trọn vẹn cho sứ vụ của mình; chứa đựng tình yêu trọn vẹn mà mỗi người dành cho Thiên Chúa và tha nhân; sống đời Khiết tịnh là sống kết hợp với Chúa một cách tuyệt vời nhất. Ở đây, người Tu sĩ hiến dâng tình yêu của mình cho Chúa cách vô điều kiện qua Giáo Hội.

Như vậy, đức Thanh khiết là một Ân Huệ Chúa ban, là dấu chỉ của sự sống muôn đời mà mỗi người Tu sĩ luôn cố gắng đạt đến. Nó vượt lên trên cả giá trị truyền sinh để đến với tình yêu đích thực là Đức Kitô.

Nguyện xin tình yêu của Đức Kitô luôn đồng hành trong mọi bước đi của những tâm hồn tận hiến sống Khiết tịnh vì Nước Trời, để trong bối cảnh của thời đại, mỗi người luôn can đảm đối diện và thăng hoa những cám dỗ của thể xác cũng như xu hướng xấu của bản năng, hầu lý tưởng cao cả mà chúng con đang bước theo được bảo toàn và thánh thiện.



[4]

DẪN NHẬP

Có thể nói việc tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm là một trong những yếu tố làm nên chân dung người tu sĩ, vì khi chọn đời sống thánh hiến các tu sĩ lấy việc khấn giữ các lời khuyên Phúc âm như phương tiện hữu hiệu để đạt được đức ái trọn hảo để theo sát Chúa Kitô. Ba lời khấn: vâng phục, khiết tịnh, khó nghèo có mối liên hệ nào với nhau và tác động như thế nào đối với nhau? Bối cảnh mới của Giáo Hội cũng như xã hội Việt Nam hôm nay có những thuận lợi và khó khăn gì ảnh hưởng đến các tu sĩ trong việc tuân giữ các lời khấn ấy, cách riêng về lời khấn khiết tịnh?

I. TƯƠNG TÁC GIỮA BA LỜI KHẤN VÂNG PHỤC, KHÓ NGHÈO, VÀ KHIẾT TỊNH

Từ khi lãnh Bí Tích Rửa Tội, người tín hữu được trở nên con Thiên Chúa, con Giáo Hội. Họ được mời gọi phải nên thánh trong từng bậc sống của mình. Đức Kitô đã yêu thương Giáo Hội như Hiền Thê của mình và được hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Ep 5,25-26). Người kết hợp với Giáo Hội như thân thể Người và ban đầy ơn Thánh Thần để làm vinh danh Thiên Chúa. Vì thế, tất cả mọi người trong Giáo Hội đều được kêu gọi nên thánh, như lời thánh Phaolô “ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3). Sự thánh thiện đó được diễn tả dưới nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang cố đạt tới đức ái trọn hảo trong bậc sống của mình biểu lộ qua những hoa trái ân sủng mà Thánh Thần đã kết sinh nơi các tín hữu. Đặc biệt hơn sự thánh thiện đó tỏ lộ qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm nhằm theo sát Chúa Kitô trong đời sống khó nghèo, vâng phục, khiết tịnh.

Nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, nhiều kitô hữu thực hành đời sống đó với tư cách cá nhân hay qua những tổ chức được Giáo Hội công nhận. Họ thành những tu sĩ qua việc tự nguyện tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm cách triệt để, hầu đời sống của họ trở nên chứng tá và mẫu gương rạng ngời cho thế giới về sự thánh thiện của Giáo Hội cũng như dấu chỉ Nước Trời ngay tại trần gian này. Như thế, có thể nói trong Giáo Hội các tu sĩ ra đời do nhu cầu thánh thiện của Giáo Hội. Khi chọn đời sống thánh hiến qua việc tự nguyện tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm như thế, người tu sĩ không làm mất ý nghĩa của Bí Tích Rửa Tội, trái lại họ sống triệt để và hoàn tất hiến lễ bắt đầu khi lãnh Bí Tích này. “Ba lời khấn ấy còn giúp họ tháp nhập vào Mầu Nhiệm Chúa Kitô cách mật thiết hơn” (GL 306)

Đời sống thánh hiến đã được tìm thấy trong mối tương quan đặc biệt mà Chúa Giêsu đã chọn một số môn đệ, không những để họ đón nhận Nước Thiên Chúa nhưng còn biết đem đời sống phục vụ Nước Thiên Chúa bằng cách từ bỏ tất cả và sống theo nếp sống của Người. Hình thức theo chân Chúa Kitô mà cội nguồn luôn là do Chúa Cha khai sáng mang dấu vết của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần đã chứng tỏ phần nào sự viên mãn cánh chung mà Giáo Hội hướng đến. Trong Tin Mừng có rất nhiều lời nói, việc làm của Chúa Kitô soi sáng ý nghĩa ơn gọi đặc biệt này. Nhưng, để có cái nhìn bao quát vô cùng hữu ích, chúng ta chiêm ngắm gương mặt rạng rỡ của Chúa Kitô trong Mầu Nhiệm biến hình. Nơi Mầu Nhiệm này, chúng ta không chỉ được mạc khải vinh quang của Chúa Kitô mà còn là một sự chuẩn bị đón nhận Thánh Giá. Đây là một trình thuật Tin Mừng đánh dấu một giai đoạn quyết định trong sứ vụ của Chúa Giêsu.

Giáo Hội chiêm ngắm dung nhan biến hình của Chúa Kitô để được vững mạnh trong đức tin và sẽ thoát khỏi nguy cơ bối rối trước gương mặt xấu xí trên thập giá. Giáo Hội đã thông phần Mầu nhiệm của Người, được ánh sáng của Người bao phủ. Chính ánh sáng đó đã soi dẫn mọi Kitô hữu bước theo Chúa Kitô bằng cách đặt Người là ý nghĩa tối hậu của đời mình “đối với tôi sống là Đức Kitô” (Pl 1, 21). Những người được mời gọi sống đời thánh hiến chắc chắn cảm nghiệm cách kỳ lạ nguồn sáng phát xuất từ Ngôi Lời Nhập Thể. Cuộc sống của họ phải phản chiếu gương mặt rạng rỡ của Đức Kitô khi Người biến hình. Thật vậy, việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm làm họ trở thành dấu chỉ tiên tri cho thế gian. Nhất thiết họ cũng sẽ rung động sâu xa như Thánh Phêrô “chúng con ở đây thì tốt quá” (Mt 17, 4). Việc khấn giữ các lời khuyên Phúc âm làm cho người được thánh hiến không chỉ hài lòng đón nhận Chúa Kitô làm ý nghĩa đời mình mà còn tìm cách tái lập trong chính mình chừng nào có thể “nếp sống mà Con Thiên Chúa đã nhận khi Người xuống thế” (LG 44)

Bắt chước đức khó nghèo của Người để nhận biết Đức Kitô như người con lãnh nhận mọi sự nơi Chúa Cha vì tình yêu (Ga 17,7). Gắn bó với mầu nhiệm đức vâng phục đầy tình con thảo, ta càng nhận biết Chúa Kitô đáng được yêu mến như Người Con chỉ biết thi hành ý muốn của Chúa Cha (Ga 4, 34)

Trong Phúc Âm không phải chỉ có ba lời khuyên đó thôi, nhưng khiết tịnh, khó nghèo, và vâng phục cô đọng tinh thần của Đức Kitô hơn cả. Và mỗi người đều được mời gọi diễn tả lối sống ấy trong từng ơn gọi của mình. Các tu sĩ đã chọn một đường lối riêng theo đặc sủng và linh đạo của Dòng mình để thực hành lời khấn ấy. Ý nghĩa chung của việc giữ ba lời khuyên phúc âm được nhìn dưới hai khía cạnh: tiêu cực là từ bỏ những ngăn trở và tích cực là hiến dâng.

Theo cái nhìn tu đức cũ, từ bỏ là khinh chê tất cả những gì là thế gian và cho chúng là tội lỗi. Nhưng với thời gian, cái nhìn thoáng hơn: người tu sĩ chỉ khước từ những giá trị tự nó là tốt để lựa chọn cái tốt hơn vì bị thu hút bởi điều thiện duy nhất là Tình Yêu Đức Kitô. Người tu sĩ không từ bỏ các giá trị thế gian vì chúng xấu xa nhưng vì coi chúng chỉ tương đối sánh với một tình yêu có hấp lực thu hút cuộc đời mình, tình yêu có tầm mức vĩnh cửu.

Khía cạnh tích cực là hiến dâng: Qua ba lời khấn, chúng ta dâng cho Chúa những giá trị cao quý nhất của con người. Đức Phaolô VI phân tích trong Tông thư “Chứng tá Tin Mừng” số 7 rằng: Qua lời khấn khiết tịnh, chúng ta dâng khả năng yêu và muốn được yêu; qua lời khấn khó nghèo, chúng ta dâng hiến khả năng chiếm hữu và sử dụng tài sản trên đời; qua lời khấn vâng phục, chúng ta dâng khả năng tự do, muốn làm chủ cuộc đời. Bên cạnh đó các tu sĩ đã chọn cách theo sát Đức Kitô qua việc họa lại chính nếp sống cụ thể của Ngài, họa lại tâm tình của Ngài như hiền lành, nhẫn nhục, yêu như Ngài đã yêu, sống như Ngài đã sống: sống cho Thiên Chúa và tha nhân. Muốn được thế họ phải sống với Ngài, tin tưởng, yêu mến Ngài và để tình yêu Ngài thôi thúc, như thánh Phaolô khẳng định “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”. Chúa Kitô đã chấp nhận vâng phục, khiết tịnh, khó nghèo nhằm cứu chuộc nhân loại thì các tu sĩ khi chấp nhận lối sống ấy cũng được chia sẻ vào công cuộc cứu rỗi thế giới. Đó cũng là mục đích của đời tu là làm vinh danh Chúa qua việc thánh hóa bản thân và làm mưu ích cho tha nhân.

Khía cạnh này thể hiện rõ hơn cả qua lời khấn khiết tịnh: Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta sống thanh tịnh hoàn toàn và vĩnh viễn làm một phương tiện thánh hóa bản thân và hoạt động hữu hiệu hơn để xây dựng Nước Thiên Chúa. Cần phải nhấn mạnh rằng đức khiết tịnh là Hồng Ân của Chúa ban cho một số người nên ta phải có thái độ biết ơn, khiêm tốn và biết trân trọng, gìn giữ. Việc tuyên khấn sống khiết tịnh diễn ra trong một khung cảnh của Giao Ước tình yêu giữa cá nhân đáp trả lại Tình Yêu Thiên Chúa nhưng không dừng ở đó. Đây còn là một thiện ích dành cho Giáo Hội và nhân loại. Chúa Giêsu đã nêu gương sán lạn bằng chính cuộc đời của mình. Cuộc đời đó hoàn toàn quy hướng về Chúa Cha trên trời và phần rỗi nhân loại. Tình yêu đó thôi thúc Ngài Nhập Thể để suốt đời trái tim Ngài chỉ đập vì tình yêu. Noi gương Ngài, các tu sĩ cam kết tiết chế hoàn toàn trong sự độc thân vì Nước Trời.

Khó nghèo là mối phúc được Chúa đưa lên đầu trong bài giảng trên núi. Bước theo lối sống nghèo trong tinh thần vì Nước Trời thể hiện việc tuyên xưng Thiên Chúa là gia nghiệp duy nhất, đích thực của con người. Theo gương Chúa Kitô “Người vẫn giàu sang nhưng tự ý trở nên nghèo” (2 Cr 8,9). Đó còn là sự trao hiến toàn thân như Ba Ngôi Thiên Chúa trao ban cho nhau. Nếu người tu sĩ chấp nhận sự nghèo khó vì Nước Trời thì mới mong đạt được những giá trị đích thực của lời khấn này: tinh thần khó nghèo đặt con người có thái độ khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa. Sự khó nghèo của người tu sĩ muốn theo Đức Kitô trong thái độ tự hạ, Ngài không chiếm hữu gì, “không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 57), chỉ lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa, tin tưởng Cha trên trời sẽ liệu cho những thứ khác (Lc 12,22). Noi gương Đức Kitô đi đến với người nghèo để phục vụ họ (Lc 4). Khó nghèo của tu sĩ còn để thể hiện yêu thương bác ái khi chia sẻ với cộng đoàn cũng như anh chị em ngoài cộng đoàn. Bên cạnh đó, việc chọn đời sống khó nghèo thể hiện trong việc không ham hố chức quyền, danh vọng nhưng còn dứt quyến luyến của những tình cảm cao thượng. Cùng với việc noi gương Chúa Kitô trong đời sống khiết tịnh, khó nghèo, người tu sĩ chọn lối sống vâng phục thể hiện việc thi hành ý Chúa như lương thực cho mình (Ga 4,34), biểu lộ vẻ đẹp của người con thảo chứ không như nô lệ. Họ tự nguyện theo ý Bề trên hợp pháp, qua luật Dòng như những đại diện của Chúa.

Như vậy lần nữa xin được khẳng định lại rằng Ba lời khấn vâng phục, khiết tịnh, thanh bần là ba lời khấn cần thiết để kiến tạo bậc tu trì. Mỗi lời khấn ấy đều giúp vào việc kiến tạo trên, và cả ba đều bổ túc cho nhau. Những lời khấn vâng phục, khiết tịnh, thanh bần còn được gọi là lời khấn phụng tự, vì nó làm cho đời sống của người tuyên thệ giữ nó trở nên một hành vi thờ phượng, một việc phụng tự Thiên Chúa.

Ba lời khấn này khác hẳn với những lời khấn khác vì chúng làm nên một bậc sống đặc biệt. Người tuyên thệ những lời khấn khác vẫn ở nguyên trong thân phận họ sống trước, họ chỉ giao kết với Chúa một trách vụ nào đó thôi. Chẳng hạn khấn ăn chay một số ngày nào đó, khấn dự lễ một số ngày… thì họ đã giao kết thi hành những trách vụ đặc biệt, nhưng cuộc sống của họ vẫn không thay đổi dù họ còn độc thân hay đã kết hôn, làm thợ máy hay làm vườn, giàu hay nghèo, thân phận họ vẫn như trước, và họ được thay đổi tùy theo ý họ, theo giới hạn có thể và được phép. Nhưng người tuyên thệ các lời khấn tu trì thì chọn một nếp sống đặc biệt và liên kết với nếp sống đó. Thật ra khi còn tập sinh, họ đã sống nếp sống đó rồi, nhưng họ vẫn còn được tự do chọn nếp sống ấy hay nếp sống khác. Khi đã tuyên khấn rồi, họ không còn được tự do như vậy nữa. Lời khấn đem họ vào bậc tu trì, thắt buộc họ bằng những trách vụ sẽ trưng dụng tất cả hoạt động và cuộc đời họ, cả đến những khả năng tiềm ẩn và độc đáo nhất của họ.

Bậc sống ấy mô phỏng hoàn hảo nhất cuộc đời Chúa Giêsu và tinh thần đã phấn khích Ngài. Thật vậy, trót cả cuộc sống của Chúa Giêsu, từ máng cỏ tới núi Calve, đều đã qua đi trong khung cảnh một cuộc đời nghèo nàn và cam go, sự thanh tịnh giãi ánh lạ lùng nơi Ngài, sự tuân phục Chúa Cha dẫn dắt Ngài tới cái chết trên khổ giá. Ngài đã chỉ sống vì vinh quang Chúa Cha, đã chỉ làm việc và đau khổ vì Nước Trời và phần rỗi các linh hồn, hết mọi nhịp đập của trái tim Ngài đều rung lên vì Chúa Cha và vì loài người mà Ngài đến cứu chuộc.

Phàm ai đã chọn sống đời tu trì đều phải khước từ hạnh phúc trần gian để nhằm một cuộc chinh phục thiêng liêng; họ quy hướng về Thiên Chúa và các linh hồn tất cả khả năng yêu thương của họ, và chỉ hoạt động để phục vụ Nước Trời. Trong đời sống đó, họ không thể có một gương mẫu nào, một mô phạm nào hoàn hảo hơn, một lý tưởng nào cao cả hơn cuộc sống và tinh thần của Chúa Giêsu.

II. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỜI KHẤN KHIẾT TỊNH

Mặc dù việc khấn sống ba lời khuyên Phúc âm tạo nên nét đặc thù tu trì và các nam nữ tu sĩ cũng đã tìm được mẫu gương lý tưởng cho đời sống là Đức Giêsu. Tuy nhiên thực tế cho thấy trước những bối cảnh Giáo hội và xã hội Việt nam ngày hôm nay, các tu sĩ dường như gặp phải thách đố để có thể trung thành với điều họ tuyên khấn.

Thật vậy, nếu trong thiên nhiên ta thấy có những cơn lốc của khí và nước làm cuốn đi một phần của quốc gia hay một tỉnh, một làng, kéo theo những thảm cảnh vô cùng ghê sợ như bệnh tật, đói khát, không cửa nhà… (thời gian vừa qua chúng ta đã chứng kiến cơn lũ miền Trung) thì có thể nói các tu sĩ ngày nay dường như cũng đang đứng trước cơn lốc thời đại…và vì thế dù muốn hay không, họ vẫn bị ảnh hưởng tốt hoặc xấu, thuận lợi hay khó khăn trong việc sống đời tu, đặc biệt là trong việc tuân giữ các lời khấn nói chung và lời khấn khiết tịnh nói riêng.

- Cơn lốc của đời sống kinh tế xã hội

Thời nay kinh tế đầy đủ, thuận tiện, sung túc, con người thích hưởng thụ theo khuynh hướng hiện sinh… Nền kinh tế phát triển, đời sống, nhu cầu sinh hoạt của con người, của các tu sĩ cũng được nâng cao hơn, có nhiều thuận lợi để phát triển trí, lực, các phương tiện cũng hiện đại hơn, tốt hơn, phục vụ nhu cầu của con người đắc lực hơn…

Tuy nhiên nếu cộng đoàn nào chưa đáp ứng được đầy đủ cho các thành viên để họ có những phương tiện phục vụ hữu hiệu thì chắc chắn cộng đoàn đó hoặc là các thành viên đó cũng phải tìm cho mình các vị ân nhân, các “đại gia” với danh nghĩa “giúp đỡ ơn gọi”. Ta không phủ nhận bao điều tốt lành các vị ân nhân đã giúp cho cộng đoàn, cũng như cá nhân để có điều kiện thuận lợi nuôi dưỡng đời sống ơn gọi, nhưng cũng có nhiều trường hợp được khởi đi từ sự giúp đỡ đó đến việc cộng đoàn cũng như các thành viên bị ràng buộc quá đáng vào các phương tiện hay các vị ân nhân.

Khi chọn đời sống khiết tịnh, người tu sĩ muốn trở thành “người của mọi người” không phân biệt giàu nghèo, lứa tuổi…nhưng biết đâu được khi nền kinh tế xã hội phát triển, con người ngày nay kính trọng kẻ có tiền, thì các cộng đoàn tu trì cũng có thể rơi vào cám dỗ: kính trọng những ai giúp đỡ cộng đoàn nhiều hơn.

Một xã hội ưa hưởng thụ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các tu sĩ, trước đây chỉ cần “ăn no mặc ấm” thì nay phải là “ăn ngon mặc đẹp”. Tại Việt nam, do một số hoàn cảnh chính trị nên các tu sĩ đa số không mặc tu phục thường xuyên. Vì thế nhiều khi thường phục của một số tu sĩ cũng rất “đời”. Họ lấy cớ rằng nếu mặc “kiểu tu” thì ra đường nhìn “chẳng giống ai cả”, sẽ như bị lạc lõng. Vẫn biết bộ áo dòng không làm nên thầy tu nhưng nhiều khi cách ăn mặc của các tu sĩ thời nay cũng ít nhiều ảnh hưởng đến người khác.

Một xã hội đề cao khoái lạc sẽ làm cho các bạn trẻ không còn quý trọng đức khiết tịnh nữa, người độc thân thành cổ điển, lỗi thời. Thỏa mãn tình yêu, tính dục đều là đúng, điều tự nhiên, bình thường. Điều này dễ làm cho các tu sĩ nếu thiếu trưởng thành sẽ thấy nghi ngờ về đức khiết tịnh có là hồng ân Chúa ban hay không?

Một xã hội ưa bề ngoài, hình thức…cũng tác động trên đời tu ngày nay. Các cụ ngày xưa đề cao cái nết, cái vẻ đẹp tâm hồn đến độ khẳng định: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” hay là “cái nết đánh chết cái đẹp.” Nhưng xem ra xã hội thời nay, giá trị đó đã bị đảo lộn: “cái đẹp đè bẹp cái nết”. Nhiều cộng đoàn hay các thành viên cũng bị ảnh hưởng lối sống vụ hình thức, chăm chú những gì là bề ngoài mà quên đi hoặc ít chú trọng đến xây dựng nền tảng cái đẹp nội tâm, thánh thiện, ân sủng.

Tinh thần hội nhập một đàng giúp người tu sĩ có cái nhìn cởi mở hơn, hòa đồng với mọi thành phần trong xã hội, lao vào xã hội đau khổ đói nghèo để yêu thương họ, cứu giúp họ. Điều đó làm chúng ta thấy rất hợp tình hợp lý. Tuy nhiên nếu không thực sự trưởng thành và với ơn Chúa cách đặc biệt, ta sẽ dễ dàng bị đồng hóa, mất đi chính bản thân mình.

Một xã hội đang tôn vinh sự phát triển vượt bậc của nghành khoa học kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến đời sống tu sĩ. Nếu ta không chạy mau, không tiến mau và không dành tất cả cho công việc đào tạo kiến thức thì ta sẽ đánh mất vị trí của mình, sẽ thụt lùi theo thời đại… và thế là một cuộc tranh đua, cạnh tranh theo tinh thần thế tục xảy ra trong các cộng đoàn tu trì. Nếu ta không giữ quân bình đủ giữa đạo đức và kiến thức xã hội, liệu ta có đứng vững trong ơn gọi không?

Một xã hội đề cao tự do cá nhân giúp cho phẩm giá, ngôi vị của từng người được tôn trọng, đồng thời cũng giúp người tu sĩ không bị lệ thuộc quá vào ai đó, nhưng đàng khác cũng dễ bị ảnh hưởng kiểu tự do thích làm gì thì làm, khó vâng lời kỷ luật, Bề trên… Từ đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới việc sống đức khiết tịnh.

- Cơn lốc về sự phát triển lãnh vực truyền thông:

Không phải là đề tài chính để bàn về lãnh vực này nhưng có lẽ ai cũng hiểu rằng lãnh vực này như con dao hai lưỡi: nếu sử dụng đúng sẽ thấy biết bao lợi ích, nhưng ngược lại nếu ta lạm dụng nó thì hậu quả xấu cũng sẽ không kém gì những hậu quả tốt nó đóng góp cho nhân loại. Một trong những phương tiện thuộc lãnh vực này là Internet. Đây là một thứ truyền thông đa phương tiện, kết hợp cả ba nghành truyền thông đã có lâu nay: báo chí (văn bản), ti vi (hình ảnh), và radio (âm thanh).

Một phương tiện truyền thông có thể qua lại hai chiều giữa người truyền đi và người nhận, phá vỡ được thế đơn phương độc thoại. Một phương tiện truyền thông có tốc độ gần như tức thời. Một phương tiện truyền thông vượt mọi biên giới… Cứ thế theo thời gian và sự phát triển khoa học kỹ thuật, Internet ngày càng mạnh hơn, nhẹ hơn, rẻ hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn và cũng nguy hiểm hơn trong khi kích thước thì càng ngày càng nhỏ hơn: có khi chỉ như món đồ chơi, mỏng dẹp, nhẹ tênh, bỏ lọt túi áo túi quần, cầm đi đâu cũng được mà lại bao gồm đủ thứ chức năng và phương tiện làm việc, để liên hệ, để giải trí nữa.

Sự tiến triển của Internet, của báo chí, truyền thanh, truyền hình…cùng với thế giới tự do ngôn luận đã đem đến cho nhân loại bao ích lợi. Nhờ các lãnh vực này mà Giáo hội đến được với muôn người…nhân loại mở rộng tầm nhìn ra thế giới, biết nhiều nền văn hóa… Nhiều nhà dòng đã lợi dụng những điểm tốt của truyền thông để loan báo Tin Mừng, kêu gọi bảo vệ sự sống, nhân phẩm, để giao lưu học hỏi, tạo thân tình…

Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng các phương tiện truyền thông đã có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người tu sĩ, đặc biệt trong việc sống đức khiết tịnh của họ. Báo chí, truyền hình, Internet… nhan nhản các bài viết, phim ảnh đề cao tình dục. Trên đài phát thanh, báo chí, ca nhạc, quảng cáo… cách nào đó người ta đang triệt để khai thác các bản năng tính dục vì mục đích thương mại. Nếu tu sĩ thường xuyên xem các hình ảnh hay đọc bài viết có tính cách khiêu dâm, liệu họ có đứng vững trước những cám dỗ?

Điện thoại – một trong những thứ cũng thuộc lãnh vực truyền thông, cũng đáng để chúng ta lưu tâm. Những năm gần đây, không nói thì ai cũng thấy những tiện ích của phương tiện này… Mặt khác, nếu ta thiếu khôn ngoan và trưởng thành thì nó lại nên cớ ảnh hưởng tiêu cực cho ta. Một chiếc di động bé xíu, nếu cài GPRS ta cũng có thể tán gẫu, đọc báo, tin tức như Internet vậy.

Theo lối tu đức xưa, người ta nhấn mạnh đến việc khiết tịnh thân xác nhưng với cái nhìn thần học mới, khiết tịnh mang tính sâu xa hơn, đó là một đức khiết tịnh từ trong tâm hồn. Điều này giúp ta có cái nhìn đúng đắn về thân xác, biết tôn trọng cả xác lẫn hồn nhưng sợ rằng sẽ có những lạm dụng cho rằng tâm hồn, tinh thần mới là chính, bề ngoài chẳng ảnh hưởng gì dẫn đến việc thiếu nết na, đoan trang trong cách ăn mặc, đi đứng, lời nói… Trước một xã hội phát triển, nhiều nhu cầu cần được đáp ứng… vậy nếu tôi đam mê tạo vật nào quá đáng như thích lên mạng, chơi game, thích sắm đồ may kiểu dáng model… thì cũng kể như tôi “ngoại tình” trước tình yêu Thiên Chúa” rồi!

Khi người tu sĩ phải đương đầu với công việc mục vụ cũng tác động trên đời sống của họ. Họ có điều kiện tiếp xúc với mọi tầng lớp: từ tu sĩ đến giáo dân, người ngoại đạo, lớn tuổi, bé tuổi… để thông cảm, chia sẻ, đem Chúa đến cho họ… nhưng giả thiết họ quên đi sự cao quý của bậc sống mình, không có một khoảng cách, chừng mực nhất định.. sẽ có những hậu quả đáng tiếc. Mặt khác, khi làm việc mục vụ, việc tông đồ nếu làm tốt sẽ được khen, được kính trọng.. và đôi khi bị lệ thuộc vào những lời khen quá vì một lúc nào đó có ai chê thì buồn bực, mất ngủ… Lần nữa, lại “ngoại tình” vì chiều theo cơn cám dỗ danh vọng.

KẾT LUẬN

Đời sống chung luôn là môi trường tốt giúp các thành viên yêu thương, thông cảm, chia sẻ vui buồn… nhưng nếu cộng đoàn đó thiếu sự chân thành cũng dễ khiến các thành viên tìm đến chia sẻ với người ngoài cộng đoàn.

Nói chung, trước một xã hội có nhiều thách đố như hiện nay, ta không nên chụp mũ xấu cho tất cả mọi vấn đề. Trái lại, để có thể sống trung thành với đời sống ta muốn chọn lựa thì mỗi tu sĩ phải cố gắng đào tạo thành một tu sĩ trưởng thành bằng đời sống nội tâm, cầu nguyện xin ơn Chúa, trau dồi nhân bản và đạo đức kitô giáo, khôn ngoan trong việc sử dụng, lựa chọn các nền văn minh của nhân loại, trong đó có nền văn minh truyền thông.



[5]

DẪN NHẬP

Một ngày mới, một năm mới và một thế kỷ mới sẽ đến, đang đến và qua đi. Hà Hải Châu, tác giả tập chuyện “Hãy tự mình tỏa sáng” có thuật lại: Một nhà quý tộc còn rất trẻ được giới thiệu gặp một vị chủ tịnh công ty quảng cáo nổi tiếng để xin việc. Vừa bắt đầu buổi gặp mặt, vị chủ nói như quát: Tôi cho cậu 20 phút thôi đấy!

Chàng trai trẻ ngồi đấy, không nói một lời. Vị chủ tịch nhắc lại: Tôi đã nói là cậu chỉ có 20 phút thôi. Chàng trai trẻ vẫn tiếp tục không lên tiếng. Vị chủ tịnh nói tiếp, thời giờ của cậu đang hết dần. Sao cậu không nói gì hết vậy? Bây giờ chàng trai mới đáp: Ông cho tôi 20 phút thì chúng là của tôi, tôi muốn làm gì với chúng thì tôi làm. Vị chủ tịch phá ra cười. Sau đó, họ đã thảo luận trong một tiếng rưỡi và chàng trai được nhận vào làm việc.

Chàng trai trong câu chuyện trên đã sử dụng hiệu quả 20 phút của mình: 20 phút im lặng để thể hiện bản lãnh, cá tính, ý tưởng độc lập tự chủ của anh. Vậy nhìn vào thế giới hôm nay, thế giới của khoa học, kỹ thuật: rất sinh động, rất hấp dẫn, đang phát triển đến không ngừng mà không ít người đã dùng thời gian, sức lực, trí tuệ, kể cả tình yêu để chạy đua với đà tiến này. Nói như Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì đây là một nền văn minh sự chết.

Đứng trước thực trạng của thời thế, thời gian giữa xưa và nay thì đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống của các Tu sĩ, nhất là trong việc sống và giữ ba lời khấn: vâng phục, khó nghèo, thanh khiết.

I- NHỮNG NHẬN ĐỊNH KHỞI ĐẦU

1. Lời khấn nào khó nhất ?
Đề cập đến “tự do” chỉ gồm 2 từ 4 chữ mà những trang đầu trong sách Sáng Thế ký nói đến: đó là nguyên tổ Ađam - Evà đã dùng tự do mà ưng theo lời xúi giục của con rắn nên đã phạm tội đầu tiên là tội “không vâng lời”. Phải chăng “vâng lời” làm mất tự do của con người? Nhưng đi vào thực tế thì con người đã xử dụng tự do cách tối đa, đến vượt mọi rào cản để đạt được mục đích, đối tượng mình muốn. Thật vậy con người ngày nay đang được mời gọi dùng tự do để thể hiện bản lãnh, cá tính trong mọi lãnh vực, thì vâng phục được xem như một rào cản trong bước tiến của thời đại khi một cuộc sống phóng túng, tự do đang len lỏi vào từng ngõ ngách ngay từ những sinh hoạt thường ngày của con người.

Đối ngược với lối sống này là đời sống của các Tu sĩ. Họ là những con người đang lội ngược dòng đời để phác họa rõ nét hình ảnh của Thầy Giêsu “lương thực của Thầy là làm theo Ý Chúa Cha” (Ga 4,34). Khi khấn vâng phục, người Tu sĩ đã tình nguyện dâng tự do cho Chúa qua các vị đại diện, qua luật Dòng hay trong mọi trách vụ họ thi hành. Công Đồng Vatican II định nghĩa họ là “những người nam, người nữ muốn theo sát Đức Kitô và tỏ lộ rõ ràng hơn sự tự hủy của Ngài... hầu nên giống Ngài, vâng phục cách hoàn hảo hơn” (LG 42). Tuyên khấn vâng phục, người Tu sĩ còn được khích lệ bởi lời giáo huấn của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: Hỡi anh chị em tu sĩ nam nữ, hãy nhớ rằng vâng phục mà anh chị em cam kết là một cách diễn tả đặc biệt sự nội tâm, cũng như diễn tả dứt khoát sự vâng phục của Chúa Kitô - vâng phục cho đến chết: “Ta hiến dâng mạng sống Ta và Ta lấy lại. Không ai cất được mạng sống Ta nhưng Ta hiến ban mạng sống Ta” (Ga 10, 17-18).

Nhưng để thực hành đức vâng lời trong xã hội mà tự do đang lên ngôi và cái tôi đang thể hiện thì đó còn là một thách đố. Vâng lời để thi hành lệnh truyền của Bề Trên hay vâng lời một chị làm đầu ít tuổi, kém tài thì không ít lần người Tu gặp khó khăn, đau khổ: có khi là sự nghiêm khắc, áp đặt của Bề Trên hay cái oai của chị làm đầu. Do vậy người Tu sĩ trở nên khép kín, luôn bị dồn nén, họ buộc vâng phục mà không dám cởi mở để nói lên điều thao thức, ý kiến đóng góp của họ.

Bên cạnh đó người Tu sĩ còn gặp nhiều khó khăn khi phải đối diện về quan điểm giữa xưa và nay: người trẻ hôm nay dễ nhạy cảm trước những vấn đề của thời đại; họ mau chán những gì bình thường, tẻ nhạt, thiếu sức sống, không hấp dẫn... thích đặt vấn đề, tìm tòi, canh tân, sáng tạo và những gì độc đáo; thích dùng ngôn ngữ biểu tượng, văn hoa bóng bảy, nên họ rất dễ bị lôi cuốn bởi những cái mới, cái hay, cái lạ. Người trẻ còn thích tự lập, khát khao tự do và tìm được tôn trọng, lắng nghe, được thể hiện hết mình trong công việc. Họ cũng rất chú trọng đến học hành và phát triển tài năng. Não trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến các Tu sĩ: Luật Dòng được ví như lan can để bảo vệ đời sống của người Tu sĩ, thì không ít lần đã trở nên vật cản, một khuôn khổ gò bó như: ăn đúng giờ, ngủ đúng lúc, đi đến nơi về đến chốn, rập theo một chương trình cơm – kinh - kẻng.

Nhiều khi vâng phục còn đòi hỏi người Tu sĩ từ bỏ những cái mình được cho, được nhận, được biếu để nộp lại cho Hội Dòng. Vịn đến lý do hơn thiệt, thiệt hơn giữa luật Dòng này với Dòng kia, giữa tu và không tu, mà không ít lần người Tu sĩ tự chuẩn cho mình thôi giữ những điều luật nhỏ vì cho rằng điều đó cổ hủ, lỗi thời và không còn phù hợp với thời @.

2. Tương Tác Giữa Ba Lời Khấn Thanh khiết - khó nghèo – vâng phục.

Dường như xã hội hôm nay đang đặt người Tu sĩ trước sự lựa chọn trong thế dằng co giữa con người và cuộc sống, để quyết định sống cuộc đời thánh hiến “một ngày là Tu sĩ sẽ là Tu sĩ mãi mãi” nhưng vẫn còn đó con người trần tục bên cạnh con người thiêng liêng. Tuy nhiên người Tu sĩ không xin cho được thôi giữ một trong ba lời khấn vì đó là bộ ba có mối tương quan chặt chẽ và bổ túc cho nhau. Lời khấn thanh khiết mở rộng con tim cho đến chiều kích con tim của Đức Kitô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu. Lời khấn khó nghèo giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta tới việc tái khám phá Đức Kitô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm. Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Kitô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác. Vâng, sống và giữ ba lời khấn giúp người Tu sĩ nên giống Chúa Kitô, được tháp nhập và được kết hợp với Chúa Kitô trong Mầu Nhiệm Tử nạn và Phục sinh. Người Tu sĩ được ví như “năm cô trinh nữ khôn ngoan, đèn dầu luôn cháy sáng”, họ phản chiếu tình yêu Chúa cho tha nhân giữa một thế giới đang thiếu bóng tình yêu, họ là người môn đệ ưu tuyển của Thầy Giêsu.

II. THANH KHIẾT- THÁCH ĐỐ CỦA THỜI ĐẠI

Sách xưa có tích: một người thợ vẽ nọ được Vua cho mời đến vẽ mấy bức tranh. Vua hỏi: Vẽ gì khó? - Thưa vẽ chó, vẽ ngựa. Vẽ gì dễ? - Thưa vẽ ma, vẽ quỷ.Sao lại thế? - Thưa bởi chó, ngựa ai cũng đã từng trông từng thấy, nếu vẽ không giống người ta sẽ thấy ngay chỗ bất tài của họa sĩ. Còn ma quỷ xưa nay đã từng ai trông thấy đâu. Nói như La Roche “ái tình giống ma, giống quỷ. Ai ai cũng đều nói đến, nhắc đến nhưng có ai đã từng trông thấy đâu?” Còn thi hào Xuân Diệu quan niệm: yêu là chết trong lòng một ít. Vâng “yêu’’ có nhiều mầu sắc, có muôn hình vạn trạng cách thể hiện.

1. Nhìn nhận có khuynh hướng phái tính.

Theo trình thuật sáng tạo thì con người là thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên sau cùng, nói đúng hơn con người là chóp đỉnh trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Con người đầu tiên được dựng nên là Ađam, Thiên Chúa đặt ông vào vườn Eđen để cầy cấy và canh giữ đất đai: “con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá xứng hợp” (St 2,20).

Trình thuật còn kể tiếp: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người, con người nói: đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23). Điều đó khẳng định con người có phái tính: 2 cực âm dương luôn hướng vào nhau, hỗ trợ và bổ túc cho nhau, nói cách khác mọi thân xác đều mang giới tính và bất cứ tương quan nam nữ nào cũng đều có yếu tố phái tính. Vì thế, quà tặng độc thân thánh hiến có thể bị nguy hiểm, bị đe dọa: vì người tu sĩ vẫn không thôi là những con người với trái tim bằng thịt biết yêu và muốn được yêu, bởi phái tính là một yếu tố ăn sâu bên trong hữu thể và đánh dấu toàn diện hữu thể: nó không chỉ ở nơi thân xác mà thấm vào tận sâu thẳm tâm hồn cũng như mọi tiềm năng của con người, nó nổi dậy bất cứ lúc nào khi cơ thể đòi hỏi.


Vi thế, Chúa Giêsu khuyên “anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ, vì tinh thần thì hăng hái nhưng xác thịt lại yếu đuối” (Mt 26,41). Thánh Phaolô cũng nói: “có ai trong anh chị em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt’’ Người Tu sĩ không chạy chốn phái tính, lại cũng không phản ứng lại bằng nét mặt khó thương hay bằng lời nói cứng cỏi, nhưng cũng không nhào dô. Trái lại, người Tu sĩ được mời gọi sống trong mối tương quan với tha nhân bằng tình tương thân tương ái vì cùng là con của Cha trên trời. 

2. Chọn Lựa Và Thách Đố. 

Đứng trước sự phát triển đến chóng mặt của khoa học, kỹ thuật thì không ít người đã băn khoăn lo lắng khi nền đạo đức, luân lý đang bị tục hóa đến mức báo động. Trước đây là cảnh lũy tre làng “tay chắp tay che” mà có lần họa sĩ Nguyễn Cát Tường hô hào trên báo phong hóa: “Ngày xưa các cụ ăn mặc cốt để che khuất thân thể, nên làm ra vẻ bề ngoài lụng thụng còn bây giờ phải mặc sao cho có dáng có điệu được uyển chuyển được thướt tha thêm”. Nhận định chung trong tâm lý con người: tiền, tài, tình... luôn mời mọc, quyến rũ, nó làm con người xiêu ngã, té nhào, đây là những “ma lực” chúng buộc con người đứng trước chọn lựa: một là buông thả sống theo xung lực sôi động của bản năng hay thăng hóa những huynh hướng xấu tiềm ẩn trong ta.

Nhiều bạn trẻ ngày nay đang rơi vào vòng xoáy của thời đại hưởng thụ khoái lạc. Từ thời ăn bo bo đến thời hiện đại hóa, từ thế hệ khép kín đến mở rộng, sử dụng tối đa Internét - A còng - Amóc. Một duyên cớ xem như hữu duyên trong mối giao lưu, gặp gỡ dù chẳng quen biết hay gặp mặt một lần. Sự “bình đẳng trên mạng” gây ấn tượng tự tin, tạo ước mơ bay bổng cho người trẻ kết bạn bốn phương. Phía sau những hào nhoáng, quyến rũ đó là cả một vấn đề về luân lý. Có người đã cảnh cáo: “trong hoạt động dịch vụ văn hóa: Karaôkê, vũ trường, quán bar... không ít cơ sở đã biến thành môi giới cho hoạt động mua dâm, bán dâm, ăn chơi xa hoa.” Không thiếu những bạn trẻ đã nản chí buông xuôi, giải quyết bằng tình dục. Ủy ban dân số gia đình và trẻ em thú nhận: độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên ở trẻ em là 14,2 tuổi, trong các trường tiểu học với những “mầm non” cần được chăm sóc, được bảo vệ cũng đã bước vào “thế giới tình dục” của người lớn. Trên thế giới khả năng làm mẹ còn quá sớm, do quan hệ thiếu lành mạnh mà báo chí, phim ảnh mang lại. Đứng trước thảm cảnh này nhiều người lo âu đặt câu hỏi: liệu chúng ta có bao nhiêu hy vọng vào những thanh niên đang say mê tốc độ vào đêm khuya, tìm tình cảm trong khách sạn. Bên cạnh đó quan hệ “đồng tình luyến ái đang phát triển, lan tràn...

Chỉ một vài nét phác họa đó thôi cũng thấy được đức Thanh khiết – nét thanh cao nơi con người đã bị hoen ố, con người đối nghịch với lương tâm, nhất là giới răn của Chúa “chớ làm sự dâm dục”. Vậy trước bối cảnh của Giáo Hội và Xã Hội Việt nam hôm nay, người Tu sĩ đã gặp những khó khăn và thuận lợi gì?

a. Những thuận lợi.
Các phương tiện truyền thông hiện đại đã nâng cao kỹ năng của các Tu sĩ, nhất là trong công tác mục vụ: giúp nắm bắt, cập nhật những thông tin, tài liệu cần thiết cho sứ vụ tông đồ. Đồng thời giúp người Tu sĩ mở rộng con tim đến với mọi người trong niềm mến yêu, cảm thông và chia sẻ. Người Tu sĩ còn có điều kiện và phương tiện tìm hiểu về tâm lý lứa tuổi để giúp cho mình và cho người khác sống tốt ơn gọi. Các phương tiện hiện đại cũng tạo cơ hội để người Tu sĩ học hỏi, phát triển tài năng và đi sâu vào chuyên môn hơn, đồng thời đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại để vươn tới chất lượng cao.

Trong lãnh vực đời sống thánh hiến của Giáo Hội, người Tu sĩ còn được nâng đỡ bởi 4 cột trụ [Chúa Giêsu và Phúc Âm, tình huynh đệ cộng đoàn, kiên trì chu toàn sứ vụ] giúp sống và giữ lời khấn tốt hơn: Chúa Giêsu chính là trung tâm, là chủ, là người lãnh đạo, là căn bản cuộc sống của mình. Nhờ sự gắn bó này, người Tu sĩ có khả năng sống một cuộc sống từ bỏ vì Nước Trời cách quyết liệt hơn. Con người không thể kiện toàn chính mình, cứu độ chính mình bởi sức riêng nên Phúc Âm là cột trụ dẫn đến sự hoán cải của con người đó tận căn của con tim vì đời sống thánh hiến không thể tồn tại nếu không quy chiếu vào Phúc Âm của Chúa Kitô, chính qua Phúc Âm mà chúng ta biết được Chúa Giêsu và sứ vụ của Ngài, chính nhờ Phúc Âm mà chúng ta chiêm ngắm mỗi ngày trong cầu nguyện và phụng vụ, để tương quan của chúng ta với Chúa phục sinh được đào sâu mỗi ngày. Ngoài ra người Tu sĩ còn được nâng đỡ bởi cộng đoàn trong tình “chị ngã em nâng”, cùng nhau chu toàn sứ vụ tông đồ khởi đi từ đời sống cầu nguyện như mối liên hệ thường xuyên với Chúa Giêsu là thiết yếu cho cam kết và kiên trì chu toàn sứ vụ của người Tu sĩ.

b. Những khó khăn
Vì người Tu sĩ vẫn không thôi là những con người, vẫn sống trong, sống với và sống cùng Xã hội nên người không tránh hết những khó khăn và nguy hiểm đe dọa đến đời sống thánh hiến, nhất là trong việc sống và giữ lời khấn thanh khiết. Bộ ba tiền - tài – tình được xem như căn bệnh của thời đại mà không ít người cho đó là hạnh phúc nên cố đi tìm dưới mọi hình thức: mê học, ham làm, chịu chơi cũng vì đó. Tình dục lại trở nên nhu cầu trong sinh hoạt của con người: trước kia nam nữ thụ thụ bất thân thì ngày nay nam nữ thụ thụ rất thân, chưa lấy nhau đã dắt nhau về. Đây là một thách đố trong quan hệ nam nữ - nó là một loại vi rút của thời đại mà ai cũng có thể bị lây nhiễm.

Vì vậy, ngày nay phải sống thanh khiết trong một thế giới vô đạo gây tổn thương sự chung thủy hôn nhân cách trầm trọng: trụy lạc, tự do luyến ái đã phô diễn những tệ nạn của nó qua sách báo, phim ảnh. Những nguy hiểm này chắc chắc đã gây ảnh hưởng trên người Tu sĩ, dẫn đến một sự tục hóa bên trong: nhiều khi là ước muốn hay sự mơ tưởng trong trí vì thiếu vắng tình cảm giữa các Tu sĩ trong cộng đoàn hay người Tu sĩ không được chia sẻ, không được cảm thông và nâng đỡ, họ dễ hướng về một đối tượng khác dưới hình thức là những cuộc gặp gỡ thường xuyên không rõ ràng, không cần thiết hay vì công tác mục vụ, những sinh hoạt đoàn hội mà người Tu sĩ cần gặp gỡ riêng tư với Cha này, Thầy nọ, huynh trưởng này với huynh trưởng kia. Vì vậy mà người nữ tu cần rõ ràng, thành thật hơn với chính mình, với người khác, với chính Chúa, bởi vì sự “hẹn hò ấy” thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và chính đáng, nhưng thực tế đó lại là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.

Ngoài ra cần quan tâm đến các yếu tố về nơi chốn, thời gian, thời lượng, khoảng cách và phạm vi cần thiết về thể lý cũng như về tâm lý của các cuộc gặp gỡ, vì tình yêu không có tuổi và giới hạn. Rõ ràng trong sự chọn lựa đòi hỏi người Tu sĩ bỏ mình nhiều hơn: chọn sống tinh thần của Chúa mà nói không với thế gian, chọn Chúa hơn chọn làm công việc của Chúa.

Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI ban hành sứ điệp nhân ngày thế giới cầu cho ơn gọi lần thứ 46, năm 2009 với chủ đề “lòng trung thành vào sự khởi xướng của Thiên Chúa - và sự đáp trả của con người”. Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: Ai có thể đi trọn đời sống thánh hiến trong khi chỉ dựa vào sức mạnh của con người? Trước thách đố của thời đại, Đức Thánh Cha còn ân cần nhắn gửi “các con đừng trở nên nhát đảm trong khi đối diện với những khó khăn và hồ nghi, hãy phó thác cho Thiên Chúa và bước theo Đức Giêsu cách trung thành, các con sẽ là những chứng nhân của niềm tin mà xuất phát từ sự kết hợp thân mật với Người”.

Cũng từ xác tín này mà đã có rất nhiều Vị Thánh và những nhân vật đáng kể được biết đến như: Đức Piô “năm dấu” với câu nói thời danh “Tôi chỉ muốn trở nên một người đang cầu nguyện mà thôi” hay như tông đồ Phêrô - con người luôn ý thức mình là đầy tớ của Đức Kitô qua việc gặp gỡ Ngài ngay trong chính sứ vụ tông đồ, nơi Thánh Phaolô có một sự thống nhất giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Mẹ Têrêsa trở nên tri âm, tri kỷ với Chúa Giêsu Thánh Thể qua đời sống kết hợp mật thiết với Chúa. Ý thức người tông đồ chỉ là một thừa sai, một dụng cụ và nếu tách rời khỏi nguồn, thì không còn gì nữa: “Không có Ta, các con không thể làm gì được” (Gioan 15,15).

Chúng ta không thể đi theo con đường khó nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt, một ý chí cao để chống chọi với nhịp sống sinh động và hấp dẫn, quyến rũ và mời gọi. Bằng đời sống cầu nguyện và kết hợp với Chúa, giúp người Tu sĩ thanh luyện cái nhìn của mình và được tăng cường như Chúa nói: ơn Ta đủ cho ngươi. Xác tín Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ. Đức Thánh Cha đương kim nhắn nhủ: “để sống ơn gọi cách sung mãn và chu toàn sứ mạng của Dòng, chúng ta cần học biết cách thinh lặng và chiêm niệm để lắng nghe chân lý là chính Lời Đức Kitô giữa thế giới ồn ào, náo động ngày nay”.

          KẾT LUẬN
Kính thưa Cha giáo, thưa các chị, đó là đôi chút đóng góp của nhóm chúng con. Chúng con cám ơn Cha giáo và quý Chị đã quan tâm theo dõi. Xin Cha giáo và quý chị thêm lời cầu nguyện cho chúng con, để mỗi ngày chúng con biết cố gắng không ngừng đào sâu ơn gọi thánh hiến và sống tốt lời khấn trong thế giới hôm nay.


[6]


NHẬP ĐỀ

Nhìn vào xã hội hôm nay chúng ta có thể thấy khi đã có đủ cơm ăn áo mặc, tiền dư gạo thừa, thì người ta lại đua nhau chạy theo quyền lực và đề cao tự do cá nhân, tự do hưởng thụ; và khi có mọi thứ cần thiết thì người ta lại tự cho mình quyền hưởng thụ tất cả, bất chấp mọi phạm vi luân lý đạo đức. Tình yêu, tình cảm và xác thịt được bày bán, được rao quảng cáo như một món hàng phổ biến có mặt khắp nơi lôi kéo mọi người không phân biệt tuổi tác, chức vị, nghề nghiệp, tôn giáo hay không tôn giáo ....

Khi vấn đề hưởng thụ được đặt lên trên tất cả thì xem ra đời sống người tu sĩ có vẻ lạc lõng, kỳ dị và đi ngược lại với văn hóa của thời đại. Sống giữa nhưng con người với những chuẩn mực đạo đức và hưởng thụ ấy, người Tu sĩ sống ba Lời khấn, nhất là Lời khấn Khiết tịnh quả là một hành trình lội ngược dòng. Vậy, liệu người tu sĩ sống 3 lời khuyên Phúc Âm có còn là một chứng từ sống động và thiết thực, cần thiết cho thế giới hôm nay hay không? Và môi trường, bối cảnh, con người xã hội liệu có làm cản trở đời sống thánh hiến của người Tu sĩ hôm nay chăng?

Để trả lời cho những câu hỏi này, xin Cha Giáo và quý chị cùng tổ 3 chúng con tìm hiểu về lời khấn Khiết tịnh, giá trị của lời khấn trong đời sống, những thuận lợi và những bất lợi cho người tu sĩ trong việc sống Khiết tịnh hôm nay.


NỘI DUNG

1/ Lời khấn Khiết Tịnh?
Vậy sống Khiết Tịnh là gì? Giáo luật số 599 có nói: “Người tuyên khấn sống khiết tịnh vì Nước Trời là người công khai cam kết tiết dục hoàn toàn trong nếp sống độc thân” (x. GL 599). Nhìn từ góc độ xã hội, thì đời sống độc thân không được ủng hộ một cách hoàn toàn, vì độc thân không mang giá trị truyền sinh và bảo tồn nòi giống, độc thân là dần đưa xã hội tới chỗ diệt vong. Vì, sự tồn tại của một cộng đồng xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự truyền sinh.

Còn nhìn từ góc độ Kitô Giáo, thì đời sống độc thân luôn được trân trọng. Độc thân có ý nghĩa và giá trị rất lớn bởi vì nó được gắn liền với lý tưởng Phúc Âm, và chính Đức Kitô đã nêu gương cho chúng ta trong nếp sống độc thân hoàn hảo này, Ngài còn mời gọi một cách nhiệm mầu một số người bước theo nếp sống đó. Đồng thời, độc thân vì Nước trời còn đem lại cho con người sự giải thoát, được nếm hưởng trước thực tại trên trời và góp phần trong việc mưu cầu ích lợi thiêng liêng cho các linh hồn. 

Ý nghĩa của Lời khấn Khiết tịnh trong cuộc sống:
 Lời khấn Khiết tịnh giúp người tu sỹ củng cố và kiện toàn đức bác ái – nhân đức vượt lên trên mọi nhân đức khác (GLCG số 1826). Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người sống đức ái; nhưng sự trọn hảo của đức ái chỉ dành cho những ai tự nguyện dấn thân trong đời sống thánh hiến qua việc thực hành các nhân đức khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục vì Nước trời.

Lời khấn Khiết Tịnh mang nhiều ý nghĩa quý giá: Trước hết, sống khiết tịnh giúp người tu sỹ dấn thân trọn vẹn trong sứ vụ Dòng và Giáo hội trao phó. Với lời khấn khiết tịnh, người Tu sĩ trở nên chứng tá cho mối tình duy nhất, mối tình không chia sẻ mà Hội Thánh dành cho Đức Ki-tô - Vị Lang Quân của mình (2 Cr 11,2). Sống khiết tịnh còn giúp người Tu sĩ kết hợp thâm sâu với Đức Ki-tô, yêu như Chúa đã yêu, một tình yêu đại đồng, một tình yêu quảng đại không bị bó hẹp ở tình yêu chiếm hữu, tình yêu dành trọn cho một người nào đó, hay một vài người nào đó, nhưng là yêu tất cả.

Đức Khiết tịnh là một quà tặng Thiên Chúa trao ban cho những tâm hồn thiện chí thao thức tìm kiếm. Lòng khao khát sống Khiết tịnh trong tình yêu của Đức Ki-tô giúp người Tu sĩ lướt thắng được những khuynh hướng làm Mẹ, một thiên chức được phú bẩm nơi người phụ nữ, để vươn tới một niềm vui cao đẹp hơn trong việc sinh ra cho Giáo hội những người con tinh thần, những người con của Nước Trời.

2/ Tương quan Lời khấn Khiết Tịnh với lời khấn Vâng phục và Khó Nghèo.

Các lời khấn là những ràng buộc tự nguyện của người tu sĩ. Những ràng buộc này đòi hỏi ta vượt lên trên các khuynh hướng tự nhiên của con người là danh vọng, giầu sang, quyền thế. Tương ứng với 3 khuynh hướng tự nhiên rất căn bản THAM – SÂN – SI của con người là Ba Lời khuyên Phúc Âm mà Đức Kitô đã sống và đã mời gọi chúng ta sống để đạt tới hạnh phúc đích thực. Nếu bộ ba THAM – SÂN – SI luôn gắn kề với nhau, thì Ba lời khấn Khó Nghèo – Vâng Phục – Khiết Tịnh cũng luôn có tương quan chặt chẽ với nhau và tiêu diệt 3 khuynh hướng tự nhiên ấy, lời khấn này sẽ giúp cho lời khấn kia được thực hiện một cách hoàn hảo. Người tu sĩ giữ tốt một lời khấn thì cũng sẽ kiện toàn 2 lời khấn còn lại. Ngược lại, nếu vi phạm hay sống không tốt một lời khấn nào đó thì cũng sẽ dẫn đến với tình trạng bê trễ 2 lời khấn còn lại.

Lời khấn Vâng phục đòi người tu sĩ sống tùy thuộc, mềm mại để Chúa dẫn đi qua trung gian Bề trên, qua người phụ trách. Để vâng phục, có lúc phải hy sinh ước muốn và phán đoán riêng tư của mình. Lời khấn Khiết Tịnh đụng chạm đến khuynh hướng tự nhiên của thân xác và những thèm muốn tự nhiên về mặt tâm lý tình cảm: muốn yêu một người và muốn được yêu lại, để cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình. Lời khấn Khó nghèo đòi người tu sĩ trở nên tay trắng, không dành lấy gì làm của riêng cho mình, không sử dụng điều gì, vật gì, hay người nào như một ông chủ.

Lời khấn Vâng phục giúp người Tu sĩ sống tốt hơn lời khấn Khiết Tịnh: vì sống vâng phục, người Tu sĩ sẽ không đặt ước muốn của mình lên trên, nhưng luôn chọn Thánh Ý Chúa, chọn ý của Bề trên. Nhờ đó, người tu sĩ tránh được nhiều dịp làm họ bị lôi kéo lỗi Đức Khiết Tịnh, bởi lẽ ý kiến của người ngoài cuộc thì luôn khách quan, luôn sáng suốt hơn người trong cuộc, nhất là ý kiến của Bề trên - người đang có trách nhiệm về ơn gọi của ta trước mặt Thiên Chúa thì càng có những quyết định khôn ngoan sáng suốt hơn.

Lời khấn Khó Nghèo đòi người tu sĩ thanh thoát với tiền của, với những khuynh hướng làm chủ vật chất – đây là một trong những phương thế giúp ta sống Thanh Khiết. Khi con người ta càng làm chủ nhiều tiền của, dư thừa vật chất, với đầy đủ tiện nghi, thì dễ nảy sinh khuynh hướng thích sở hữu, sở hữu vật chất, sở hữu tình cảm, sở hữu cả con người; đồng thời dễ dàng nảy sinh khuynh hướng hưởng thụ, nhu cầu thỏa mãn những tình cảm tự nhiên. Khi không biết tiết chế về tiền bạc, thì con người cũng thật khó có thể  tiết chế trong tính dục. Nhất là, khi chưa đủ trưởng thành trong việc sử dụng tiền bạc, sử dụng các phương tiện truyền thông, kèm theo chưa đủ trưởng thành trong việc giữ lời khấn Khó Nghèo, thì quả là khoảng cách rất mong manh dẫn ta đến với những nguy cơ gây hại đến đời sống Khiết Tịnh.

Như vậy, để giữ lời khấn Khiết Tịnh thì phương thế cần thiết là sống tốt hai lời khấn Khó Nghèo và Vâng Phục, bởi lẽ hai lời khấn này có thể được sánh ví như khiên thuẫn che chắn người tu sĩ khỏi những cám dỗ, những nguy cơ cản trở cho lời khấn Khiết Tịnh.

3/ Những thuận lợi cho đời sống Khiết Tịnh

Đời sống cộng đoàn Dòng tu:
Cộng đoàn là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển tình huynh đệ giữa các tu sĩ với nhau. Nơi cộng đoàn, người tu sĩ tìm kiếm được tình yêu thương chân thành và cũng là nơi họ được trao ban, chia sẻ tình yêu của mình với người khác. Có một câu hỏi được đặt ra: con người chỉ có gì? Và con người chỉ cần gì? Thì thật thú vị, một câu trả lời luôn có sẵn trong mỗi người nhưng nhiều người lại ít khi nghĩ tới, bởi nó thật hiển nhiên là con người chỉ có tình yêu và con người cũng chỉ cần tình yêu mà thôi. Do vậy, người tu sĩ cần tạo cho mình và chị em có một đời sống huynh đệ lành mạnh, để phát triển tình yêu thanh khiết giữa chị em với nhau, biết thông cảm chấp nhận và luôn biết nâng đỡ nhau bằng một tình yêu chân thành. Có như vậy, cộng đoàn dòng tu mới thực sự là cộng đoàn của tình yêu, cộng đoàn của những người theo Đức Kitô.

Bên cạnh đó, đời sống cộng đoàn còn giúp chị em tránh được những tình cảm bất chính và cùng giúp nhau vượt qua những khủng hoảng của tình cảm, giúp nhau dùng những phương thế thiêng liêng để khước từ những gì nguy hại tới đức Khiết Tịnh. Cũng chính trong môi trường đào luyện đời sống cộng đoàn, người tu sĩ được trang bị hành trang cần thiết để chống lại các nguy hại đến lời khấn, giúp họ trưởng thành trong việc sống lời khấn. Một người Tu sĩ trưởng thành sống khiết tịnh là người biết dùng những phương thế có lợi cho sức khỏe thể lý cũng như tâm lý, biết khổ chế giác quan tình cảm, sống đoan trang khiêm nhường theo mẫu gương Đức Maria, luôn biết duy trì thái độ vui tươi và lòng biết ơn mà Thiên Chúa đã dành cho họ nhờ tình yêu đó, Đức Kitô đã nhìn đến và chọn gọi họ, vì thế mỗi người tu sĩ cần phải mang niềm vui tươi đến với chị em, tạo bầu khí tình yêu huynh đệ trong Đức Kitô ngay trong đời sống cộng đoàn.

Đời sống cầu nguyện:
Đức Khiết tịnh là ân huệ cao cả Chúa ban giúp giải thoát con người để yêu mến Chúa và tha nhân hơn, đó cũng là dấu chỉ của kho tàng trên trời, là phương tiện thích hợp nhất cho việc hiến thân phụng sự Chúa và làm việc tông đồ. Tuy nhiên để đạt được điều đó, người Tu sĩ cần phải phát triển tình yêu thân mật với Đức Kitô qua việc chuyên cần học hỏi Lời Chúa, thường xuyên lãnh các Bí tích. Đời sống cầu nguyện, đời sống kết hợp thâm sâu với Chúa Giê-su sẽ giúp ta kín múc được sức mạnh thiêng liêng để lướt thắng tất cả trong tình yêu của Đức Kitô. Một khi đã cảm nếm được tình yêu của Đức Kitô một cách đích thực, thì chúng ta chẳng cần đến một tình yêu nào khác, nơi lòng người khó dò và dễ đổi thay.

Kỷ luật tu trì:
Nói đến bối cảnh thuận lợi cho người sống Thanh Khiết không thể không nói đến bầu khí kỷ luật Tu trì của các Dòng tu. Đây là một phương thế hữu hiệu bảo vệ người tu sĩ trước những mưu mô, những cám dỗ của xác thịt và thế gian. Kỷ luật của các Hội dòng thường giúp người tu sĩ sống tốt các lời khấn của mình, nhất là lời khấn Khiết Tịnh, như:  luật “Thiên Thần”, luật sống chung, luật Nội vi, kỷ luật giờ giấc, quy định không nhận Bố Mẹ đỡ đầu, kết nghĩa, anh em thiêng liêng, kỷ luật trong các tương quan với người khác phái, và kỷ luật sử dụng các phương tiện truyền thông trong việc giao tiếp với những người có thể gây trở ngại cho việc giữ lời khấn khiết tịnh …  Vì vậy, để sống tốt lời khấn Khiết Tịnh người tu sĩ cần phải trân quý và yêu mến kỷ luật của Dòng  như chiếc áo che chắn bảo vệ mình.

Bầu khí của Giáo hội:
Giáo hội luôn trân quý bậc sống của những người thánh hiến và luôn quan tâm đến những thách đố mà người thánh hiến gặp phải trong mọi bối cảnh. Gần đây Giáo hội đã ra một loạt các văn kiện chú trọng đến việc huấn luyện tâm lý các chủng sinh và tu sĩ, nhằm lưu ý đến sự đào luyện các tu sĩ trưởng thành về tình cảm tính dục, về sự khiết tịnh trong bậc sống. Đồng thời tại các Giáo hội địa phương, các Tu sĩ được đào tạo về Tu đức rèn luyện các Tu sĩ sống tốt mối thân tình với Chúa và trưởng thành trong các tương quan nhất là tương quan với người khác phái….

Với những giáo huấn, những đường hướng đào tạo của Giáo hội, và với mẫu gương sống động của Mẹ Maria và các Thánh đồng trinh, các Tu sĩ được nâng đỡ về tinh thần, được củng cố về hiểu biết, và có thêm kinh nghiệm ứng phó trước những thách đố về nếp sống Thanh Khiết. Đây quả là một bầu khí thật thuận tiện cho người Tu sĩ được gia tăng lòng nhiệt huyết trong đời sống thanh khiết.

4/ Những bất lợi cho đời sống Khiết tịnh

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi ấy, cũng không hiếm những điều kiện, hoàn cảnh và môi trường gây nhiều trở ngại cho người Tu sĩ trong việc sống lời khấn Thanh khiết, là lời khấn được xem là khó giữ, bởi vì đã là người thì ai cũng mang trong mình nhu cầu yêu và được yêu. Người Tu sĩ không nằm ngoài quy luật đó, họ cũng cần được yêu thương, tình yêu của người Tu sĩ được nuôi dưỡng được ấp ủ, được phát triển trong tình yêu của Đức Ki-tô và được cụ thể hóa nơi đời sống cộng đoàn. Thế nhưng, khi họ không cảm nghiệm được tình yêu nơi Đức Kitô và họ cũng không tìm thấy tình yêu nơi cộng đoàn thì họ sẽ tức khắc phải đi tìm kiếm tình yêu cho mình trong các tương quan khác bên ngoài cộng đoàn. Vì vậy, có thể nói nguyên nhân trước tiên cho việc ngăn trở lối sống Khiết tịnh của người Tu sĩ cũng chính là bầu khí của cộng đoàn.

a/ Bầu khí cộng đoàn
Sở dĩ, nhiều người tìm đến với đời sống thánh hiến bởi vì họ xác định rằng cộng đoàn dòng tu này sẽ mang đến cho họ hạnh phúc. Hạnh phúc trong cộng đoàn chính là mô phỏng trước hạnh phúc được hứa ban ở đời sau. Chính Đức Giê-su đã nói: “cứ dấu này, người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. Như vậy, khi người tu sĩ trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc và vươn tới hạnh phúc, mà họ không tìm thấy hạnh phúc nơi cộng đoàn mình đang sống, trái lại họ chỉ tìm thấy những ganh ghét, những cạnh khóe cay nghiệt, những thiên tư tây vị, những vùi dập, những bới lông tìm vết… thì chắc chắn họ sẽ phải tìm kiếm hạnh phúc ở một nơi nào đó ngoài cộng đoàn.

Nơi đó có thể là trong tương quan với bạn cùng giới ở bên ngoài, nhưng trầm trọng hơn khi họ tìm kiếm sự đồng cảm, tình yêu nơi những người khác phái, lúc đó tình yêu họ tìm kiếm sẽ không chỉ đơn thuần dừng lại ở một tình yêu thánh thiện như các Thánh. Nhiều người cho rằng tôi yêu cha nọ, thầy kia đó là một tình yêu thánh thiện, tình yêu của Thánh Phanxico và Clara. Vâng, nếu chúng ta yêu được một tình yêu thánh thiện thì đó quả là một tình yêu thánh, một tình yêu cần thiết cho đời tu của chúng ta, những con người luôn hướng tới sự thánh thiện. Tuy nhiên, cám dỗ của Đức Khiết Tịnh cũng nằm ở chỗ đó, không có cám dỗ nào lại mời gọi bạn hãy bước vào cám dỗ, vào chỗ chết, nhưng cám dỗ luôn được mặc bên ngoài một lớp áo thánh thiện, có như vậy nó mới có thể lôi kéo được chúng ta sa ngã. Vì vậy, chúng ta hãy coi chừng và cảnh giác những tình cảm mà tưởng chừng như thánh thiện ấy trong tương quan nam nữ.

Và một nguyên nhân khá phổ biến nữa đó là do một số Hội Dòng chưa có thể lo được cho chị em về chi tiêu sinh hoạt thường ngày, dẫn đến tình trạng mặc dù luật dòng cấm không cho nhận Cha đỡ đầu nhưng một số chị em vẫn lén lút nhận. Từ việc ban đầu nhận sự giúp đỡ về kinh tế, nhưng đáp lại nhiều khi chị em phải đền trả bằng tình cảm … và có thể làm mất cả đời tu.

b/ Môi trường xã hội, với những tiến bộ khoa học
Sống trong thời đại của công nghệ hóa, với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, người Tu sĩ không khỏi không bị ảnh hưởng. Tất cả các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại: Sách báo, phim ảnh, internet, máy vi tính, TV kỹ thuật số, cell phone …. đều là những dụng cụ tốt cho người biết sử dụng, nhưng chúng cũng có thể là những đường dẫn “hữu hiệu” đưa tinh thần thế tục vào đời tu, cản trở việc sống các lời khấn, hủy hoại đời sống chung cũng như đời sống cầu nguyện. Câu hỏi được đặt ra: Làm sao người tu sĩ trẻ tự biết trưởng thành trong việc chọn lựa phim ảnh, âm nhạc thích hợp với đời tu của mình và biết thưởng thức chúng với tinh thần phê phán? Làm sao để những quyến rũ được nhiều người trẻ ngoài xã hội, như tình dục và bạo lực, lại không có thể cuốn hút, mê hoặc được người tu sĩ trẻ? Làm sao để người tu sĩ có khả năng từ chối, quay đi, xa tránh những cám dỗ nguy hiểm, mà không do sợ hãi, ép buộc, và sau đó cũng không thấy mình bị dồn nén hay tiếc nuối? Trong việc huấn luyện và được huấn luyện, không ai muốn tạo lên một môi trường tu trì với bầu khí bưng bít. Thế nhưng, vấn đề được đặt ra là làm gì đây khi bầu khí mở nhưng vẫn không làm cho người tu sĩ bị đánh mất căn tính của mình. Chắc hẳn sự mở ra phải song song với sự trưởng thành của từng cá nhân.

c/ Quan điểm của con người về tính dục.
Người tu sĩ trẻ, trước khi vào Dòng, lúc còn là dự tu, đã chịu ảnh hưởng của gia đình, của học đường, của xã hội mình sống. Có nhiều giá trị tích cực, nhưng cũng không thiếu những điều tiêu cực ảnh hưởng trên lối suy nghĩ, lối sống, trên bậc thang giá trị của mỗi người. Lối sống tiêu thụ và hưởng thụ của con người hôm nay làm cho việc tuân giữ kỷ luật, hy sinh từ bỏ, khổ chế giác quan, trở nên khó chịu và nặng nề; thái độ đề cao tự do cá nhân quá đáng dẫn đến cá nhân chủ nghĩa và óc vụ lợi; tinh thần thế tục khiến cảm thức về những giá trị thánh thiêng trở nên khó khăn. Chính vì vậy, thật khó cho người tu sĩ tự do trưởng thành trong lời khấn họ đã tự do lựa chọn.

Bên cạnh đó, trong môi trường học hành, nhất là các môi trường Đại học, nơi mà người tu sĩ luôn gặp phải những phản đối, những ngạc nhiên thậm chí những quan điểm cho là lạc hậu là có vấn đề từ phía bạn bè, từ phía thầy cô về lựa chọn sống không lập gia đình. Họ cho rằng cuộc sống đời này chẳng được bao lâu, mà phải tự mình giam hãm trong điều thuộc về bản năng, cứ hưởng thụ đi, cứ yêu đi cho cuộc sống bớt buồn. Quả thât, đối với con người chạy đua trong vòng xoáy của cuộc đời, thì chỉ trong những giây phút hưởng thụ ngắn ngủi ấy mới đem lại cho họ những khoảnh khắc hạnh phúc mong manh. Thế nhưng, cũng chính những tư tưởng ấy, những cách sống buông thả ấy lại có ảnh hưởng không nhỏ đến chuẩn mực về nếp sống lời khấn Khiết Tịnh của người tu sĩ trẻ ngày nay. Và cũng không ít tu sĩ trẻ mạo hiểm cho rằng: cứ yêu đi, có cảm nhận được tình yêu nam nữ là gì thì mới có thể yêu được tình yêu với Đức Kitô Đấng mình chẳng bao giờ nhìn thấy. Phải chăng đây cũng là một cám dỗ, và là một mạo hiểm của người tu sĩ với lời khấn khiết tịnh.

d/ Thiếu trưởng thành về tâm lý tính dục
Nhiều người cho rằng Lời khấn Khiết tịnh là lời khấn khó giữ nhất, vì xu hướng tính dục ngày càng phổ biến trong xã hội, vì đó là nhu cầu của con người là được chăm sóc và được yêu thương, vì sự cô đơn trong cuộc sống, vì tính dục là bản năng của con người. Nhưng có lẽ, nguyên nhân sâu xa vì không biết cách giải quyết các cảm xúc và các mối quan hệ với người khác phái – vì chưa trưởng thành về mặt tâm lý tính dục, tâm lý tình cảm. Khi chưa đủ trưởng thành, người ta cũng không đủ khả năng để biện phân đâu là tình cảm chân chính, đâu là tình cảm cần phải loại bỏ. Khi không biện phân được thì cũng là lúc dẫn người Tu sĩ đến lựa chọn, đến lối sống sai lạc.

e/ Thiếu đời sống nội tâm
Trong tất cả những thách đố, những nguyên nhân dễ làm cho người tu sĩ khó sống khiết tịnh, thì có thể nói nguyên nhân chính là người tu sĩ đó còn thiếu đời sống nội tâm. Sống đời thánh hiến là gắn bó chặt chẽ với Đức Kitô, chọn Đức Kitô là bạn trăm năm và chúng ta là Hiền thê của Ngài, phải chung thủy tín trung với Ngài. Thế nhưng, nhiều khi người tu sĩ lại chưa cảm thức rõ được căn tính ấy, chưa thực sự kết hợp mật thiết với Người, chưa thực sự gặp gỡ và trao đổi với Ngài, nên thường hay đi tìm sự trao đổi, sự gỡ rối ở một nơi nào khác không phải nơi Chúa Giê-su Thánh Thể. Khi không tìm được sự bàn hỏi nơi Thiên Chúa, thì với nhu cầu tự nhiên của con người, chúng ta sẽ dễ dàng có khuynh hướng ra ngoài, và chính khi không có được sự gặp gỡ thân mật với Chúa Giê-su là lúc dễ làm chúng ta bị lầm đường, dễ nuông chiều theo bản tính xác thịt tự nhiên…. Và cứ như vậy, thì thật khó để ta sống Lời khấn Khiết Tịnh một cách trọn hảo. Theo các nhà Tu đức, một trong những phương thế quan trọng nhất để người Tu sĩ sống tốt lời khấn khiết Tịnh là kết hợp mật thiết với Chúa Giê su Thánh Thể, là siêng năng đến với Ngài trong các Bí tích, trong các cử hành phụng vụ của Hội Thánh, trong kỷ luật dòng và nhất là siêng năng tham dự Thánh Lễ và rước Mình Thánh Chúa.

KẾT LUẬN

Sống trong một xã hội với muôn vàn những thách đố, những lôi cuốn như xã hội ngày hôm nay, người Tu sĩ, nhất là người tu sĩ trẻ phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn cần phải trải qua trong nếp sống Khiết tịnh. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là chúng ta - người tu sĩ cần được huấn luyện và tự huấn luyện đủ trưởng thành, đủ bản lãnh, nhờ đó có thể đứng vững một mình trước bất cứ phong ba nào của thời cuộc mà không lo sợ và bối rối.

Trong hành trình ơn gọi của mỗi người, những vấp ngã có thể xảy đến, nhưng chúng ta không nên cầu toàn. Điều quan trọng là biết đứng dậy từ những vấp ngã đó và rút ra cho mình cũng như cho người khác bài học. Đặc biệt về phía người Tu sĩ trẻ chúng ta phải tự đào luyện mình trưởng thành và quân bình trong tâm lý tình cảm …  Chính sự thiếu hiểu biết hay hiểu sai về căn tính của việc sống đức Thanh khiết là nguyên nhân dễ dẫn ta đến với những sai lầm: không những sai lầm trong việc sống Lời khấn Thanh khiết, mà còn sai lầm trong nếp sống tương quan tình bạn, tình huynh đệ trong cộng đoàn.

Chúng ta cũng cần phải ý thức được rằng: thực hành đức Thanh khiết, không chỉ dừng lại ở chỗ đề phòng các cơn cám dỗ, cũng không phải là tiêu diệt, là bóp nghẹt mọi thứ tình cảm đang chỗi dậy trong chúng ta, nhưng phải là tiến tới một tình yêu trao hiến. Lý tưởng người thánh hiến đạt tới phải trở nên chứng nhân cho tình yêu của Đức Kitô cho nhân loại, chứ không phải là những người ủ rũ thất tình, hoặc dồn nén gắt gỏng hoặc tìm những bù trừ bồi đắp.

Cầu mong các tu sĩ trẻ chúng ta, những người đang được đào tạo hãy cùng nhau chung tay xây đắp lên một môi trường cộng đoàn chan chứa tình yêu thương, nơi mà mọi người có thể tìm thấy tình yêu của Đức Kitô, nơi mà mọi người có thể cảm thông chia sẻ, nơi mà mọi người có thể cùng nhau giải gỡ những mối tơ vò – có như vậy, đời tu mới thực sự có ý nghĩa và lý tưởng sống Thanh khiết của chúng ta mới thực sự nở hoa và kết trái.


[7]


NHẬP ĐỀ

Tình yêu thánh hiến không phải là cái gì mơ hồ hoặc thoáng qua. Đó là một giao ước tình yêu. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tuyển chọn một người, dành riêng người đó ra để thi hành một sứ mệnh. Một khi nhận thức ra tình yêu đặc biệt ấy, con người đáp lại tiếng gọi với một tình yêu tuyệt đối không chia sẻ. Tình yêu thánh hiến được diễn tả qua một ý chí dâng trót mình, một cách vĩnh viễn, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm: Khiết tịnh, Khó nghèo và Vâng phục. Việc tuyên giữ ấy biểu lộ ý chí muốn theo gương Đức Kitô trong việc vâng phục Chúa Cha và dâng mình làm hy lễ để thánh hóa nhân loại. Đây là lối sống diễn tả tình yêu trao hiến toàn thân cho Thiên Chúa và nhân loại.

NỘI DUNG

1. Mối liên hệ giữa 3 lời khấn Khiết tịnh - Khó nghèo - Vâng Phục:

Đời tu là đời dâng hiến, dâng mình cho Chúa để phụng sự Ngài và đồng thời phục vụ sứ mệnh của Giáo hội (Lumen Gentium chương VI số 44­). Căn cước của đời sống dâng hiến được hình thành bởi việc tuân giữ ba lời khấn. Chính nhờ việc tuyên giữ ba lời khấn, người tu sĩ đã biến đổi căn cước của mình để được “trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”. Chính Chúa Kitô là động lực làm nẩy sinh đời sống thánh hiến. Do đó đời sống tu trì mang dấu vết thần linh, hoán cải con người mang đầy tham sân si, đang làm nô lệ cho những đam mê hư hèn, để trở thành con người mới, con người được giải thoát khỏi sự kiềm chế của dục vọng xác thịt, hoàn toàn nên giống Đức Kitô: vâng phục, khiết tịnh và khó nghèo. Khi sống "vâng phục, không có của riêng và khiết tịnh", những người tận hiến tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Mẫu Mực, nơi Người mọi nhân đức đạt tới mức hoàn hảo. Thực vậy, lối sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Người xuất hiện như một cách sống Tin Mừng triệt để nhất trên trái đất này.

Ba lời khấn Khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục đi song hành với nhau như kiềng 3 chân, không thể có lời khấn này mà thiếu lời khấn kia được. Lời khấn khiết tịnh của người tu sĩ không chỉ mang ý nghĩa hạn hẹp qua những phương cách bảo vệ sự trinh khiết của mình, để dâng hiến sự trinh khiết đó lên cho Thiên Chúa. Hiểu như vậy là chúng ta giới hạn quyền năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không giàu sang hơn hay nghèo kém hơn dựa trên sự trinh khiết của mỗi con người. Sống khiết tịnh đòi hỏi chúng ta phải bước xa hơn một bước nữa trong sự dứt khoát với tất cả mọi tạo vật để chỉ chọn một mình Chúa là đối tượng duy nhất và dành tất cả nghị lực trong cuộc đời để phục vụ Chúa qua tha nhân. Tình yêu khiết tịnh của chúng ta không dừng lại nơi tình cảm ướt át, xem Chúa Kitô như người tình riêng của mình, nhưng hệ tại ở tình yêu trung thành với sứ mạng được ủy thác và tình yêu thao thức trước những bất toàn, những nỗi thống khổ của nhân loại đến từ những bất công con người dành cho con người.

Để đạt được tình yêu này, chúng ta không có cách nào khác hơn là tìm những phương thế để có được sự mật thiết với Chúa Kitô qua đời sống cầu nguyện. Nói cách khác, sống khiết tịnh là sống đời cầu nguyện, luôn hướng về Thiên Chúa là trung tâm điểm của mọi suy tư, mọi sinh hoạt trong cuộc đời. Con tim tự do hạnh phúc để yêu thương là con tìm hiền lành và trinh khiết. Chỉ có con tim thuộc trọn về Chúa mới cảm nhận được hạnh phúc tình yêu đích thực, mới hiểu được giá trị sâu xa của tình thương Thiên Chúa dành cho con người.

Lời khấn khiết tịnh mang một tầm vóc đặc biệt bởi một đàng đó là lời khấn duy nhất mang nội dung bất di dịch cho mọi hình thức thánh hiến tu trì qua mọi thời đại, và đàng khác, đó cũng là lời khấn, với nghĩa vụ độc thân kèm theo, có tính chất “lời khuyên Phúc Âm” nhất theo nghĩa chặt của ngôn từ. Có lẽ cũng chính vì thế mà thay vì sắp xếp theo trình tự cổ điển (khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục), các văn kiện Công đồng đã đặt lời khấn này lên trước, bởi đó là lời khuyên được Chúa Giêsu kêu mời rõ ràng nhất (x. Mt 19,12), được thánh Phaolô nhấn mạnh nhất (1 Cr 7, 32-35), được nhìn nhận và tuân giữ như một hình thức của cuộc sống tận hiến sớm nhất (x. Cv 21,9). Công đồng khẳng định lời khấn khiết tịnh là “ân huệ nổi bật” làm nguồn mạch và dấu chỉ sự thánh thiện của Giáo Hội, là “dấu chỉ và động lực của đức ái” (x. GH 42), là “dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời”, là dấu chỉ sáng chói của giao ước mới và hôn nhân mầu nhiệm giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (DT 12).

Như vậy, việc sống lời khấn khiết tịnh làm nên chứng tá về tình yêu thuần khiết vô biên, vô điều kiện, vô vị lợi mà Thiên Chúa dành cho con người, một tình yêu con người cần đáp trả và cần thể hiện đối với nhau. “Khiết tịnh tận hiến nhắc lại cuộc duyên tình (giữa Chúa Kitô và Giáo Hội) một cách trực tiếp hơn và làm cho mối tình ấy vươn đến một cao độ mà lẽ ra mọi tình yêu nhân loại phải gắng đạt tới... Khiết tịnh chứng tỏ tình yêu Thiên Chúa được đề cao hơn hết...” Quả thực, lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim người thánh hiến, giúp họ “đạt đến chiều kích của con tim Đức Kitô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu” (XPL 22).

Trong đêm tối của “văn hoá hưởng thụ” vốn đang tháo thứ những quy luật đạo đức khách quan về tính dục, thì việc vui vẻ thực hành đức khiết tịnh hoàn hảo loé sáng lên như một “chứng tá về quyền năng của Thiên Chúa trong sự mỏng dòn của mong manh phận người”. Đây chính là một trong “những chứng tá cần thiết cho hôm nay hơn bao giờ hết” để minh chứng sức mạnh phi thường của tình yêu Thiên Chúa và đáp ứng nhu cầu thèm khát sự trong sáng ngày càng tăng trong mối quan hệ giữa người với người (x. DSTH 88). 

Đời sống thánh hiến, một mặt đòi chúng ta phải khước từ tình cảm phái tính, một mặt đòi chúng ta phải khước từ những sở hữu vật chất bên ngoài, để theo gương Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh qua lời khấn khó nghèo. Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta nghèo. Trái lại, Người luôn muốn cho chúng ta được phong phú: "Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Jn 10,10). Muốn sống dồi dào, thì tại sao Đức Giêsu lại chọn sinh ra trong một gia đình nghèo khó, chọn một cuộc sống lữ thứ thiếu thốn và đón nhận cái chết tủi nhục trần truồng trên cây thập giá? Hơn ai hết, Đức Giêsu hiểu được rằng sự giàu có vật chất khó có thể đi đôi với đời sống thần linh sung mãn: "Thầy bảo thật, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào nước Thiên Chúa" (Mt 19:24). Đức Giêsu là tấm gương sống động cho những ai muốn sống đời nghèo khó để thảnh thơi theo đuổi sự giàu sang của Nước Trời. 

Lời khấn khó nghèo không đòi buộc người tu sĩ sống trong sự nghèo nàn thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng đòi buộc hy sinh, quên mình, chấp nhận giới hạn của con người, thánh hóa những đau khổ trong cuộc sống, học nơi Đức Giêsu bài học từ bỏ để mưu tìm hạnh phúc đích thực cho chính mình và cho tha nhân. Sống khó nghèo để ao ước sự giàu sang của Nước Trời là dám đồng hóa và cảm thông với những phần tử thấp kém trong xã hội, để tìm ra một giải đáp giúp con người sống sung mãn, là biết chọn ngân hàng vĩnh cữu để gửi trao tài sản tinh thần đã sắm được, là chọn những điều kiện nêu trong Hiến Chương của Nước Trời. Do đó, một nếp sống đơn sơ, khiêm tốn, không dính bén, không chiếm đoạt là điều phải có để dành thời giờ cho những sứ mạng quan trọng hơn.

Với lời khấn khó nghèo, người tu sĩ thực hiện lời Chúa dạy "Hãy về bán hết mọi của cải, và phân phát cho người nghèo và đến đây đi theo Thầy" (Mt 19,21)... Không có của riêng, để tuỳ thuộc hoàn toàn vào Chúa trong tín thác, lệ thuộc vào Dòng và tùy thuộc Bề Trên... Trong một xã hội vật chất và tiện nghi, lời khấn khó nghèo mời gọi chúng ta khước từ sự sở hữu, chấp nhận việc sử dụng vật chất trong sự tùy thuộc vào bề trên và cộng đoàn, chị em... đúng là một sự ngược dòng, đòi hỏi hy sinh và đấu tranh liên lỉ...

Lời khấn khó nghèo được hiểu và sống cách đa dạng và phong phú trong lịch sử Giáo Hội. Có khi là bán hết tài sản, có khi chỉ là “tinh thần nghèo khó” thôi. Ngày hôm nay, lời khấn khó nghèo được đặt trong mối liên hệ sâu xa hơn với việc phục vụ và phát triển người nghèo, trong viễn tượng là xây dựng một Giáo Hội của người nghèo, cho người nghèo, vì người nghèo, và hơn nữa, một Giáo Hội nghèo.

Lời khấn khó nghèo là chứng tá về một tình yêu trao ban. Dù được diễn tả dưới hình thức nào thì cốt lõi của việc sống khó nghèo cũng là một lối sống bước theo Chúa Kitô trong tâm tình bác ái, trao tặng... Đó là một tình yêu luôn khao khát và tìm kiếm Thiên Chúa như là Đấng tuyệt đối, như là kho tàng đích thực của lòng mình. Dưới khía cạnh xã hội, đó là một tình yêu liên đới và chia sẻ dành cho anh em chị em mình, nhất là những người nghèo khổ.

Lời khấn khó nghèo cũng là dấu chứng về sự giàu có đích thực chỉ có nơi Thiên Chúa, nơi kho tàng trên trời. Đó là thái độ sống phó thác vào Thiên Chúa và biết liên đới với người khác. Sắc lệnh canh tân Dòng tu đã khéo léo đề cập tới khía cạnh “khó nghèo tập thể” với những chỉ dẫn rằng “hãy làm chứng tập thể về khó nghèo” qua việc sẵn lòng chia sẻ của cải với Giáo Hội, với các nhà khác của Hội Dòng cũng như những người túng thiếu (DT 13đ); đồng thời, khuyến cáo họ “hãy tránh mọi hình thức xa hoa trục lợi quá đáng (DT 13e).

Mỗi người thánh hiến cần trở nên chứng nhân của sự nghèo khó đích thực. Trong thế giới hôm nay, đức khó nghèo trở thành một chứng tá hùng hồn trước sự hoành hành của “chủ nghĩa vật chất thèm khát chiếm hữu, dửng dưng với những nhu cầu và đau khổ của những người yếu đuối” và hững hờ trước sự huỷ hoại của môi trường sinh thái (x. TH 89). Vì thế, đây phải là một sự khó nghèo “mở”, “khó nghèo Phúc Âm để phục vụ người nghèo” (TH 90), “phản đối thói thờ tiền tài, thói dửng dưng vô cảm trước khổ đau túng thiếu, thói tiêu dùng của cải cách ích kỷ và hoang phí, để thể hiện một tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo, cổ võ việc sử dụng của cải cách có trách nhiệm và trong tinh thần liên đới, đấu tranh chống lại bất công, hầu xây dựng một thế giới nhân đạo hơn” (x. TH 90).

Con tim chúng ta một khi đã thanh thoát với tiền của, không vướng bận tình cảm phái tính sẽ giúp chúng ta sống tốt lời khấn vâng phục hơn. Tâm điểm của công cuộc thích nghi và canh tân đời tu chính là lời khấn vâng phục - một quyền bính được thi hành không phải để thống trị mà là phục vụ trong đức ái. Thánh Tôma đã không ngần ngại coi lời khấn vâng phục là “lời khấn cao trọng nhất trong tất cả các lời khấn”, vì qua đó người tu sĩ dâng cho Thiên Chúa điều cao quý nhất là ý chí tự do và quyền định đoạt về đời sống. Tuy  lời khấn vâng phục cao cả nhưng lại không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh hôm nay, vì lời khấn này đòi hỏi chúng ta phải hi sinh chính mình, hi sinh ý chí, hi sinh ý riêng, hy sinh chính bản ngã như là một hiến lễ dâng tiến Thiên Chúa, noi gương vâng phục khiêm hạ của Chúa Kitô, “Đấng đã tự huỷ mình, nhận lấy thân phận tôi tớ... và vâng lời cho đến chết” (Pl 2, 7-8; GH 42d).

Vâng phục là chứng tá về tinh thần phó thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa: “Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Kitô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác.” (x PL22). Công đồng Vatincanô II làm nổi bật giá trị cứu độ và tư tế của hành vi tuân phục nơi Chúa Giêsu (x. GH 3, 36, 37, 41; TG 24) và vai trò tích cực đầy trách nhiệm của Mẹ Maria (x. GH 56, 61, 63). Đức tuân phục tu trì chói lọi như một hiến lễ toàn thiêu dâng tiến Chúa, noi gương Chúa Kitô tuân phục và Mẹ Maria “xin vâng” (DT14). 

Đức vâng phục cũng là chứng tá về sự khiêm nhường thẳm sâu và sự hiệp thông trong cộng đoàn. Nếu như thánh Biển Đức đã trình bày đức vâng phục trong tương quan với đức khiêm nhường và các nhân đức khác, thì thánh Basiliô và thánh Đa Minh lại đề cao tính hiệp thông và bác ái của lời khấn này.

Đức vâng phục cũng làm chứng về sự tự do đích thực của con cái Chúa, khi con người được giải thoát khỏi mọi ràng buộc khiến họ xa rời ý Chúa. Lời khấn vâng phục vì thế phải được hiểu như là “lắng nghe” và “thi hành” thánh ý của Thiên Chúa, cả dưới góc độ cá nhân cũng như tập thể. Qua việc tìm kiếm và thi hành ý Chúa, người thánh hiến tìm được tự do đích thực và tìm thấy con đường tốt nhất để thực hiện và tăng tiến sự tự do đích thực đó. Vì chính qua vâng phục, họ tìm được ý nghĩa đích thực của cuộc đời, là thi hành ý muốn cứu độ của Ngài trên đời mình, là tháp nhập ý mình vào ý Chúa, hiệp nhất với cộng đoàn để thực thi cùng một chứng tá và cùng một sứ vụ trong tinh thần con thảo với Chúa và hiệp thông huynh đệ với anh chị em mình (x. TH 91-92).

Tóm lại, qua việc khấn giữ 3 lời khuyên Phúc Âm Khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, người tu sĩ dâng hiến cho Thiên Chúa những giá trị cao quí nhất của con người: Tự do, tài sản và thân xác. Đó là ba chiều kích quan thiết nhất của bản ngã con người. Nếu lời khấn vâng phục được coi là quan trọng nhất, thì lời khấn khiết tịnh giúp chúng ta định hướng tâm tình và hướng tâm hồn lên với Chúa. Lời khấn khiết tịnh làm cho hai lời khấn còn lại có ý nghĩa và là điều chính yếu trong đời sống ơn gọi, giúp định hướng các thái độ và quan hệ của người tu sĩ.

2. Những thuận lợi và nguy cơ lỗi đức khiết tịnh

a. Những thuận lợi
Tuyên khấn khiết tịnh, người tu sĩ không còn bị ràng buộc tình cảm với riêng ai nên rất dễ dàng đến với mọi người. Đây là ân ban đặc biệt Thiên Chúa dành cho những con người tận hiến, để chúng ta có đủ khả năng hành động cách hiệu quả trong các lĩnh vực, nhất là trong lãnh vực truyền bá sự thật.

Đời sống cộng đoàn là một gia đình, trong đó các thành phần đã hiến dâng mình cho Thiên Chúa và dành trọn cuộc sống để sống chung với các chị em, cùng nhau thực thi bác ái yêu thương, cùng tiến tới lý tưởng, chia sẻ và cầu nguyện cùng nhau, giúp đỡ nhau thăng tiến trong đường tu đức, băng bó những vết thương, nâng nhau dậy và tự do đáp lại ơn gọi của Chúa. Mỗi khi chị ngã em nâng: Chỉ một lời nói, một cử chỉ, một ánh nhìn cảm thông có thể giúp nhau vơi nỗi niềm, cùng chung chia với nhau niềm vui nho nhỏ: ” Chị ơi, chị nhận được tin gì mà vui thế?” hay “ Chị à! Chị để em xách đỡ thùng nước cho” hoặc “em này, chị chia sẻ phương pháp này xem có hay hơn không nhé”... Những lúc chia sẻ chan hoà như thế sẽ giúp chị em nhận được niềm vui, tình thương, ấm tình Chúa chan tình người. Trong đời sống cộng đoàn, có người tự nhiên cảm thấy mình hợp tính với số người này, đồng thời cảm thấy số người khác sao mà khó tính, khó nết quá đi. Nhưng không phải hợp tính nhau mới làm nên cộng đoàn, các khác biệt cho thấy sự giàu có và phong phú của một Thánh Thần duy nhất.

Nhờ đời sống cầu nguyện và được nuôi dưỡng bằng Thần lương Mình và Máu Đấng Hằng Sống, những giây phút thinh lặng trước Thánh Thể, ta có được nguồn sức mạnh thiêng liêng, để thắng vượt những cám dỗ về tình cảm xác thịt, những đòi hỏi tình yêu phái tính, được thanh thoát và quân bình trong đời tu và những ham muốn.

Kỷ luật Dòng sẽ giúp người tu sĩ sống tốt đức khiết tịnh. Luật giúp ta đi đúng đường lối, giúp nhìn lại để sửa sai, để bàn hỏi. Đức Cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn đã viết rất sâu sắc: “thức có luật bàn, ngủ có luật canh”. Kỷ luật Dòng là áo giáp che chở chúng ta, để chúng ta sống tốt đức khiết tịnh.

Sứ vụ tông đồ đòi ta dâng hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa, không chỉ mong bản thân được cứu độ, mà còn mong vinh danh Chúa và ơn cứu độ cho mọi người, nên chúng ta không ngần ngại hy sinh cuộc sống để phục vụ, để chia sẻ cho muôn người tình thương của Chúa, cho dù gặp nhiều trở ngại. Chúng ta có thể đưa Chúa đến cho tất cả mọi người qua những lời kinh nguyện, những cảm thông đồng cảm, những hy sinh, hay qua chia sẻ Lời Chúa, chia sẻ đời thường, những giờ tập hát, dạy Giáo lý, tuỳ theo linh đạo của mỗi Dòng. Tất cả những hoạt động ấy giúp ta đem tình thương của Chúa đến cho mọi người và nhận lại được niềm vui, hạnh phúc giúp ta sống đức khiết tịnh cách dễ dàng hơn.

Ngoài ra, với sự phát triển ngày nay, chúng ta có nhiều cơ hội học hỏi, hiểu sâu rộng hơn về tâm lý - thể lý - sinh lý của mình hầu sống đức khiết tịnh cách hữu hiệu hơn.

b. Những khó khăn (nguy cơ):
Đời thánh hiến hôm nay, dù muốn dù không cũng bị ảnh hưởng bởi thế giới bên ngoài. Cái khó cho tu sĩ là phải sống nhập thế, sống cùng với nhân trần và sống trong nhân trần, cho nhân trần. Nhân trần ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống tu trì khiến tu sĩ  gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuân giữ lời khấn.

Dường như sự tĩnh lặng trầm lắng là một cái gì đó vô bổ, xa xỉ đối với nhiều tu sĩ trẻ. Đánh mất đi sự thinh lặng của cõi lòng bằng ước muốn “thăng tiến ồn ào” trong đời tu; chểnh mảng đời sống thiêng liêng, nhất là sau khi làm việc tông đồ về, thân xác mỏi mệt rã rời thì chẳng thiết gì kinh hạt nữa. Giới tu ngày nay dường như cũng đang cố gắng khẳng định mình bằng một số bằng cấp hay khả năng nào đó. Khi hướng chiều quá về những cái chóng qua ấy thì đời sống thiêng liêng giảm sút, thời gian cầu nguyện bị cắt xén, những giây phút lắng đọng tâm hồn để cảm nhận sự ngọt ngào của Thiên Chúa bị ngắn lại. Rồi khi không đạt được mục đích hay không thành công, không theo ý mình, tu sĩ cảm thấy trống vắng, dễ sinh phiền lòng và đi tìm một điểm tựa, một an ủi nơi một ai đó không phải là Thiên Chúa.

Tu sĩ còn bị ảnh hưởng bởi các nền văn hoá, giáo dục. Việt Nam đang trong tình trạng một chiều, mang nặng tính lý thuyết kiến thức mà quên đi việc giáo dục nhân cách con người, dẫn đến khủng hoảng trầm trọng về đạo đức trong nhà trường, cũng như trong gia đình và xã hội. Giáo hội cũng không nằm ngoài vòng vây đó: nhiều người sống bừa bãi, tự do trong lối sống, từ ăn mặc tới thái độ sống, từ giao tiếp dẫn tới các tình cảm lố lăng, làm mất đi những giá trị, phẩm chất của chính mình. Người nữ tu chúng ta sống và làm việc trong xã hội ấy cũng chịu ảnh hưởng nhiều, không thể tránh khỏi bởi con người giới hạn.

Người tu sĩ gặp khó khăn trong việc giữ lời khấn khiết tịnh còn do chính bản thân, chưa trưởng thành về đời sống tâm linh cũng như tình cảm, thiếu chín chắn, chưa quyết đoán. Có những người “lội ngược dòng” thiếu kiên nhẫn do “thiếu một tình yêu sâu đậm đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân, tâm hồn trở thành bại liệt và khô cứng, lại vất vả che đậy sự cằn cõi thiêng liêng và tâm lý. Những trường hợp đó dễ gặp những náo động nguy hiểm, mà trước hoặc sau sẽ ngã sang một tính dục trá hình, kiêu căng hoặc những hình thức khác”.

Khuynh hướng do bản năng giới tính, một bất lợi chi phối lớn đến người chọn bậc độc thân khiết tịnh: người đời  gọi những người chọn đời sống độc thân khiết tịnh là những người “lội ngược dòng” vì một người bình thường luôn có nhu cầu yêu và được yêu rất mãnh liệt từ nội tâm, và định hướng đối tượng thường tình là người khác phái.

Khó khăn nữa đến từ phía cộng đoàn: Sống trong cộng đoàn đông người nhưng vẫn cảm thấy cô đơn, do thiếu sự yêu thương, cảm thông chân thành, không hiểu nhau, không chấp nhận những khác biệt, thiếu sự tin tưởng nâng đỡ, thiếu lòng chân thành, không cho nhau cơ hội sửa sai để tiến lên bắt đầu lại, còn xét đoán phiến diện, ganh tị, không tìm được niềm vui nơi công việc. Những điều đó gây cho chúng ta rất nhiều đau khổ, khiến ta dễ sinh phiền lòng, rồi mong muốn được tìm ai ngoài cộng đoàn để sẻ chia, đồng cảm. Ban đầu là những ý tưởng tốt lành nhưng sau đó thường kết thúc bằng một tình yêu tính phái.

Môi trường mục vụ có khi cũng gây khó khăn cho người tu sĩ: thường chỉ có hai chị em, hoặc có khi chỉ có một mình. Hai chị em lại không thuận hoà, những người có trách nhiệm thiếu quan tâm, động viên, nâng đỡ, khiến họ cứ phải lùi lũi một mình nên dễ sa ngã khi có bàn tay khác phái cảm thông, an ủi. Lại có khi dễ bị người khác tấn công nữa.

Con người ngày nay nghiêng chiều về khuynh hướng thực dụng, dẫn đến lối sống chủ nghĩa duy cá nhân, duy vật chất, duy khoái lạc, trật tự luân lý bị đảo lộn dễ làm chúng ta mất phương hướng, ảnh hưởng đến đời tu.

Các phương tiện truyền thông rất đa dạng và tiện lợi, nếu ta sử dụng không trưởng thành, sẽ là dịp cho ta khó giữ đức khiết tịnh.

Như thế, để sống đức khiết tịnh cách hoàn hảo và thánh thiện, người tu sĩ phải chiến đấu không ngơi nghỉ, phải rướm máu trước bao khó khăn thử thách. Khi tuyên khấn, chúng ta được gọi là người bạn trăm năm của Đức Kitô, nhưng chúng ta vẫn còn vương mang nhiều yếu đuối và giới hạn của phận người. Cuộc đời chúng ta không biến hình để trở thành người của thế giới siêu phàm. Dâng hiến không có nghĩa là biến trái tim trở nên khô cứng lạnh giá, không còn biết rung cảm trước những vẻ đẹp. Dâng hiến cũng không phải là trở nên lạc lõng, cô độc, khinh thường tình yêu trần thế. Trái lại, khi sống đời sống khiết tịnh, chúng ta vẫn là người trước cuộc đời, vẫn tiếp nhận những làn sóng yêu thương mời gọi trong rung động trái tim, vẫn có thể bị dao động trước một đối tượng mình tiếp xúc, vẫn nhìn thấy những điều kỳ lạ trong tình yêu đi tìm một nửa hồn mình. Nhưng chúng ta dám từ bỏ tất cả, chỉ để dâng tình yêu cho Thiên Chúa và chọn Chúa làm gia nghiệp đời mình.

c. Giải quyết những khó khăn
Hạnh phúc đời dâng hiến chỉ có thể đạt được khi chúng ta biết cách giải quyết những khó khăn cho đời sống khiết tịnh. Điều không thể thiếu đó là chúng ta phải sống tâm tình cầu nguyện, sống mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, phó thác cuộc đời cho Chúa, đặc biệt qua lòng yêu mến Thánh Thể, những giây phút thinh lặng trước Thánh Thể và để Thánh Thể Chúa hiện diện thực sự trong cuộc đời mỗi chúng ta, chi phối chúng ta, giúp chúng ta sống tốt đức khiết tịnh và thoát khỏi những cám dỗ. Vì chính Chúa đã dạy “anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần nhẹ nhàng hăng hái nhưng thể xác lại nặng nề yếu đuối” (Mt 26,41).

Để sống sung mãn đức khiết tịnh cũng đòi hỏi chúng ta phải có tấm lòng yêu thương thực sự, yêu thương mọi người, đặc biệt yêu thương chị em trong Hội Dòng. Cùng nhau chia sẻ sứ vụ, công việc, không gây áp lực cho nhau, nhưng biết sống chân thành, cởi mở, quảng đại, nâng đỡ nhau qua việc chia vui sẻ buồn, động viên khích lệ tinh thần và tạo cơ hội để sửa sai, vì đời sống cộng đoàn chính là điểm tựa giúp ta sống tốt đức khiết tịnh.

Chúng ta còn cần phải trưởng thành trong đời tu, trong nhân cách, trong các mối quan hệ, biết làm chủ tình cảm cũng như dục tình. Biết sử dụng trưởng thành các phương tiện truyền thông, xa tránh những cơ hội dễ làm ta phạm đến đức khiết tịnh như khi giao tiếp quá thân thiện, trong thời gian lâu giờ, khoảng cách quá gần và nơi kín đáo riêng tư với người khác phái.

Hội nhập văn hoá với dân tộc nhưng không được “đánh mất mình”. Bối cảnh xã hội hôm nay có nhiều vấn đề phức tạp liên quan tới tình cảm, đòi hỏi Giáo hội cũng như các Dòng, các vị hữu trách cần có những phương pháp giáo dục trưởng thành hơn, quan tâm hơn tới chị em bằng sự yêu thương, giúp đỡ, tạo cơ hội cho chị em yên tâm sống đời tu.

KẾT LUẬN
Khước từ cuộc sống có sức hấp dẫn dường như trở thành điều nghịch lý trong cuộc sống nhân trần. Do vậy đời sống dâng hiến nơi người tu sĩ càng trở nên một phản chứng cho những gì thế giới bên ngoài đang tôn thờ. Thế nhưng nó lại trờ thành lời hùng biện vĩ đại, có sức lôi cuốn con người nhìn đến thực tại cao hơn.

[8]


DẪN NHẬP
Trong thế giới hôm nay có nhiều cái đòi hỏi mỗi người phải có sự lựa chọn cho mình điều gì tốt và cái gì không cần để loại đi. Nói đến lựa chọn là phải chọn cái đẹp và bỏ đi cái xấu, cái không thích, cái không cần, cái chưa tốt.. để chọn cái tốt hơn. Đời sống thánh hiến cũng là sự lựa chọn, nhưng không phải chọn một lần là xong, mà sự lựa chọn ấy còn phải kéo dài trong suốt cuộc sống dâng hiến, qua việc tìm hiểu, làm mới lại sự lựa chọn ban đầu, qua mối tương quan giữa ba lời khấn, cùng với những thử thách mà tu sĩ có thể gặp trong xã hội Việt Nam hôm nay. Nhờ đó họ có thể tìm ra cho mình cái đẹp của sự lựa chọn đúng đắn, một cái đẹp cho lối đi mới cho đời sống thánh hiến của mình.

NỘI DUNG
I. TƯƠNG TÁC GIỮA BA LỜI  KHẤN
 1. Lời khấn là gì?
Sách “Thánh Hiến Cuộc Đời” đã cho chúng ta biết: Lời khấn là một lời hứa mà ta đã suy xét và tự do đoan thệ với Chúa, tự buộc mình theo đức thờ phượng làm một việc lành, một việc lành tốt hơn. Điều đó cho thấy một mối tương quan ràng buộc của ba lời khấn Dòng qua những nét đẹp của một tâm hồn thánh hiến và nét đẹp đó được đặt trên nền tảng vững chắc trong tòa nhà Giáo Hội.
2. Nền tảng Thánh Kinh
Trình thuật Mátthêu 19, 16-30 có thể được coi là bản văn cổ điển nói về sự phân biệt giữa lời Truyền và lời khuyên. Theo cách giải thích cổ điển, thì việc giữ các giới răn là điều truyền để được vào Nước Trời, còn việc theo Chúa, giữ khó nghèo là điều khuyên dành cho ai muốn nên trọn lành. Tuy nhiên có những nhà chú giải không đồng ý điều đó, theo họ vấn đề ở đây không phải là sự phân biệt giữa lời truyền và lời khuyên.

Trong Mátthêu 19, 3-12, các Pharisiêu chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề ly dị: “người đàn ông có được phép rẫy vợ vì bất cứ lý do gì?” Chúa Giêsu đã khẳng định tính cách bất khả ly của hôn nhân và các môn đệ nói khó khăn như vậy thì thà đừng lấy vợ thì hơn. Chúa bảo: “không phải ai cũng hiểu được điều ấy, nhưng chỉ có ai được ơn thì mới hiểu được. Có những người yêm hoạn từ lòng mẹ sinh ra, có những người yêm hoạn do bàn tay con người, có những người yêm hoạn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu”.

Phải chăng có thể tìm thấy ở đây sự đối chọi giữa hôn nhân (điều truyền) và sự độc thân (điều khuyên). Trong chương 7 của thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, người ta tìm thấy hai chữ “truyền” và “khuyên” ở câu 25. Trong chương này có nhiều nhà thần học hiện đại đã hiểu cách khác. Luật cũ cho rằng: sự độc thân là điều xấu (người nam ở một mình thì không tốt) nhưng luật mới thì khác, sự độc thân là một hồng ân, một đặc sủng.

Ngoài việc tìm hiểu trên nền tảng Kinh Thánh, chúng ta có thể tìm hiểu trên toàn thể bối cảnh tư tưởng của nó. Khi nói đến lời khuyên phúc âm (LKPÂ), Công đồng nói rằng chúng bắt nguồn từ các lời giảng dạy và gương mẫu cuộc đời của Chúa Kitô, khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời (LG 43, PC 1,25).

Cần sửa đổi lại não trạng theo đó là khuyên không buộc mà là để tùy ý. Nhưng hãy hiểu lời khuyên như là lời mời của tình yêu, lời mời gọi hãy tiến lên hơn nữa trong tình yêu. Đây là điều đặc trưng của Tân Ước, của luật mới, đối lại với luật cũ. Tất cả luật mới đều tóm lại trong các lời khuyên theo nghĩa nó hướng tới con tim, tới tình yêu, chứ nó không cưỡng ép.

3. Tương tác giữa ba lời khấn
Ba lời khấn Dòng là cách cắm thập giá Chúa Kitô vào trung tâm cuộc sống trưởng thành của chúng ta, ngõ hầu sự sống lại của Chúa Kitô ngự trị nơi ta.

Lời khấn khó nghèo là một trong ba lời khuyên trong tám mối phúc, là nền tảng vững mạnh cho các mối khác và mở đường cho bài giảng trên núi. Đức khó nghèo Phúc âm giải thoát chúng ta trong sự sống mới. Muốn tham dự đời sống mới của Chúa khải hoàn, phải buông bỏ những sở hữu làm chướng ngại. Phải từ chối vơ vét chiếm ngự, để Chúa Kitô có thể chụp bắt được chúng ta. Đó là những chân lý mà mỗi người chịu phép rửa phải hiểu rõ, và khi đáp lại lời mời của Thiên Chúa, người tu sĩ phải tìm phương tiện hiệu nghiệm để những chân lý đó thở thành hiện hữu nơi mỗi người.

Cũng tương tự như hai lời khấn kia, nhưng lời khấn khiết tịnh đòi hỏi nhất. Đức khiết tịnh hoàn hảo vì Nước Trời minh chứng thực tại cánh chung huyền nhiệm. Sống yêm hoạn vì Nước Trời là chứng minh thực tại huyền nhiệm của tình yêu Thiên Chúa đã chiến thắng trong Đức Kitô, đã thắng bao sức lực của tình yêu giả dối mà chúng ta thường gặp trong đời người.

Đôi tay chúng ta mở rộng để tập bỏ tính chiếm hữu của cải bao nhiêu, chúng ta càng biết lãnh nhận và cho đi bấy nhiêu, qua đó chúng ta càng có thể vui sống nhờ vào tình thân đó bấy nhiêu.

Đức vâng phục dấn thân đi vào một mệnh lệnh vừa khai mở, đảm nhận như một chọn lựa của riêng mình, thánh ý Chúa được tỏ ra như một tự do khác. Chúa Giêsu đã nói: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Đức Giêsu là một Người sống vâng phục cách tuyệt đối và trọn vẹn. Ngay khi còn ở với Thánh Giuse và Đức Maria, Ngài hằng vâng phục các ngài và đến tận cuối đời, Ngài đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết”.

Quả thật ba lời khấn khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục có một mối tương quan chặt chẽ không thể tách rời. Việc sống ba lời khuyên làm nền một đời sống biến hình,có sức chiếu tỏa ánh sáng của những chứng từ đời sống. Ba lời khấn không chỉ là con đường nên thánh mà còn là liệu pháp thiêng liêng cho nhân loại trước trào lưu tôn thờ ngẫu tượng. Với ba lời khuyên được đem ra sống triệt để và sáng tạo đời Thánh Hiến trở thành một dấu chỉ cho thế giới hôm nay.

II. NGUYÊN NHÂN LỖI ĐỨC THANH KHIẾT.
1.  Nguyên nhân chủ quan
a.  Do sự thiếu trưởng thành
Trước tiên sự trưởng thành thường được hiểu như là trưởng thành nhân bản, trưởng thành đời tu, trưởng thành về đời sống thánh hiến: sống đời tu một cách sáng suốt đầy đủ và với một thiện chí hoàn toàn. Đó là một thực tại bao trùm tất cả (3 lời khấn, đức ái, đời sống chung, các mối liên hệ). Nhưng được đạt đến một cách tiệm tiến qua những nguyên động lực là Thiên Chúa, kinh nghiệm, trí năng và ý chí.

Công Đồng đòi các ứng sinh phải có sự trưởng thành về tâm lý và tình cảm, để tuyên khấn sống khiết tịnh. Sự trưởng thành tình cảm quan trọng, nhưng trong đời sống thánh hiến cần có một sự trưởng thành và phát triển toàn diện hơn: Thể lý, tâm lý, tri thức và tình yêu nữa (tình yêu con cái, tình yêu huynh đệ, tình bạn, tình yêu cha mẹ, tình yêu đam mê xác thịt).

Sự trưởng thành trong đời sống nhân vị là trưởng thành nhân vị toàn diện, được thể hiện qua các tiêu chuẩn, khả năng yêu thương và đón nhận yêu thương, khả năng can đảm và đối thoại, khả năng làm việc và cộng tác có trách nhiệm, khả năng tự lập, khả năng lấy Thiên Chúa làm trung tâm.

Người Thánh Hiến hôm nay được mời gọi đạt tới sự trưởng thành cần thiết để có sự quân bình chín chắn trong cách suy nghĩ, cách chọn lựa và quyết định, cách phán đoán và hành động sao cho toát lên vẻ đẹp chứng tá vui tươi và thuyết phục của đời sống Thánh Hiến. Chính vì những yếu tố này chưa hội đủ nơi người Thánh Hiến nên nó cũng làm cản trở cho việc giữ đức Thanh khiết hôm nay. 

b.  Tu sĩ cũng là một con người.
Vì vẫn mang bản chất con người, người khấn Khiết Tịnh vẫn còn nhu cầu tự nhiên của mình: yêu và được yêu, nên vẫn còn khát vọng muốn thuộc về một người và có một người thuộc về mình. Vì thế, trong những năm gần đây Giáo Hội đã phải rơi lệ khóc thương khi có những người con tự ý bỏ cuộc, không sống trong lý tưởng Thánh Hiến của mình. Điều này có thể là do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến, nhưng chúng ta không thể nào không nói một trong những nguyên nhân đó là do xã hội tục hóa tiêu thụ và hưởng thụ.

Ngày nay, con người có nhiều cơ hội gặp gỡ trao đổi giúp nhau thăng tiến đi lên cùng thế giới, nhưng cũng không thể nào tránh được những tiêu cực vẫn xảy ra như: xử dụng điện thoại không đúng mục đích, những cuộc trao đổi không cần thiết, đặc biệt là giữa những người khác phái. Thật đáng tiếc khi những điều này lại xảy trong những mối tương giao giữa “Bố con thiêng liêng, anh em thiêng liêng”. Những mối liên hệ nhiều khi đi quá giới hạn của mình nên dẫn đến tình trạng “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”.

Hơn thế nữa nơi con người còn có những tư tưởng lệch lạc khi cho rằng phái tính là điều thiết yếu của con người, bắt nguồn từ cuộc “cách mạng” về phái tính hay tình dục nên cho rằng đó là một ý thứ hệ coi phái tính là điều thiết yếu của con người nên họ cũng cho việc hưởng thụ thú vui phái tính là quyền lợi của con người.

Ngày nay có nhiều người nghi ngờ khích bác đời sống độc thân thánh hiến, và họ sống buông thả, lại đòi quyền sử dụng ngừa thai, coi thường thủ dâm, cho phép phá thai: Việt Nam là một đất nước đứng thứ ba trên thế giới trong việc phá thai. Những tư tưởng tệ hại này cũng thâm nhập vào đầu óc một số tu sĩ, làm đảo điên lời khấn thanh khiết của họ, khiến họ ngày càng khép kín với anh chị em, không dám nói ra nhưng trong lòng thì đã ngả theo cách suy nghĩ và tự biện minh và tìm cách hưởng thụ. Bên ngoài độc thân nhưng trong lòng thì không độc thân theo tinh thần lời khấn khiết tịnh. Do đó chúng ta cũng không lạ gì khi ngày nay vẫn có tu sĩ “chân trong chân ngoài” làm mất đi vẻ đẹp đời sống thánh hiến.

Ngòai ra, não trạng cá nhân chủ nghĩa coi cá nhân là tuyệt đối, đánh mất giá trị đời sống chung, khiến việc nhiệt tâm sống lời khấn khiết tịnh cũng bị giảm sút.

2.  Nguyên nhân khách quan
Những lý do chủ quan về chính phía đương sự đã ngây ảnh hưởng cho nhiều tu sĩ khó giữ được lời khấn khiết tịnh. Nhưng xét cho cùng ngoài khía cạnh chủ quan ta cũng còn phải xét khía cạnh khách quan đưa đến thách đố đó.
a. Thiếu giáo dục giới tính thích hợp
Quan niệm của giới trẻ Việt Nam hôm nay về phái tính hoàn toàn khác với quan niệm của các thế hệ đi trước. Họ cho rằng cha mẹ họ sống quá câu thúc, gò bó, cố chấp, giả tạo về phương diện tình dục, hầu như khước từ một cách vô lý mọi thú vui và thực sự không có hạnh phúc. Còn họ không thể chấp nhận quan niệm câu thúc đó, họ muốn sống trung thực với lòng mình, sống hạnh phúc thực sự, dám yêu ào ạt và lập tức.

Cho đến nay những người làm giáo dục ở Việt Nam vẫn lay hoay mãi về nội dung và cách thức đưa giáo dục giới tính vào chương trình đào tạo. Lại khoảng 73% giáo viên giảng dạy giáo dục giới tính vẫn chưa được đào tạo chuyên môn. Trong khi đó độ tuổi quan hệ tình dục đầu tiên của giới trẻ Việt Nam ngày càng hạ thấp và con số trẻ gái nạo thai đã tăng gấp 3 lần so với năm 1990.

Ủy ban dân số gia đình và trẻ em thú nhận độ tuổi quan hệ tình dục đầu tiên của giới trẻ Việt Nam bây giờ là 14,2 tuổi, thay vì 19 tuổi như trước kia. Như vậy, cô cậu bé lớp 8, lớp 9 đang là những “mầm non” cần được chăm sóc bảo vệ thì đã bước vào “thế giới tình dục” của người lớn. Tỉ lệ công nhân có quan hệ tính dục trước hôn nhân đang tăng cao: nếu năm 1997 chỉ có 8,6% thì năm 2005 đã tăng 37,8%

Tài liệu thống kê trong mấy năm gần đây cho thấy hiện nay sinh viên tự do hơn trước trong lãnh vực tính dục. Kết quả tại một cuộc thăm dò tại một trường đại học cho thấy: trong 4 năm đại học có tới 72,4% nữ sinh đã có quan hệ “tính dục”. Một số nữ sinh viên có học vấn và trẻ đẹp còn chấp nhận làm “sân sau” cho các “đại gia”, những người có gia đình, tuổi tác chênh lệch để có tiền ăn tiêu, may sắm theo sở thích. Tệ hơn nữa có một số nữ sinh làm “dịch vụ tình cảm” theo nhu cầu của khách, nghĩa là một hình thức mại dâm cao cấp, ngày càng gia tăng.

Các nhà giáo dục và các nhà khoa học công nhận là trong những năm qua Việt Nam đã đạt được một số thành tựu về giáo dục, nhưng so sánh với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, cũng như trình độ kiến thức của các nước trong khu vực và trên thế giới thì tình trạng giáo dục của nước ta quá lạc hậu và bất cập, và một nền giáo dục đã có điều nghịch lý. Có một sự khác biệt lớn lao giữa các mục tiêu đã được xác định và việc thực hiện chương trình giáo dục nhằm đạt mục tiêu đó. Việc quá chú trọng đến thi đua thành tích trong giáo dục trong khi thiếu thốn những điều kiện tối thiểu để làm hoàn thành nhiệm vụ thường làm cho hao mòn sức lực và niềm vui của nhà giáo nên dẫn đến hiện tượng khá phổ biến là thiếu trung thực, lừa dối nhau bằng những thành tích ảo và vô số những hiện tượng tiêu cực khác.
Lối giáo dục thiếu hụt như vậy cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống thánh hiến.

b. Môi trường văn hóa.
Ngày xưa, đời sống độc thân rất được quý trọng nên người tu sĩ cũng thận trọng trong đời sống độc thân của mình và cảm thấy ai sống trong ơn gọi đó cũng thật hãnh diện trước công chúng. Ngày nay, đời sống độc thân không còn được chú ý và coi trọng lắm, vì cũng có nhiều người không tu trì nhưng vẫn sống độc thân, được hiểu là không có cam kết ràng buộc hôn nhân, nhưng vẫn có quan hệ nam nữ. Trong một bối cảnh văn hóa như thế, một số tu sĩ có thể bị chao đảo với lời khấn khiết tịnh và đời sống độc thân, vì một đàng thiếu sự khích lệ từ bên ngoài, đàng khác chính mình cũng hồ nghi về giá trị hay sự hữu ích của lời khấn.

c. Môi trường mục vụ
Trước tiên trong môi trường mục vụ, tu sĩ cần phải được đào tạo mục vụ cho vững chắc theo khuôn mẫu của Chúa Kitô - vị mục tử nhân lành. Cần đào tạo huấn luyện sao cho người trẻ được trải qua những thách đố để quyết tâm, triệt để đi theo Chúa Kitô và những đòi hỏi sâu xa của sự thánh thiện, giúp biện phân ơn gọi vượt quá con người họ, hay vượt quá các ý tưởng ban đầu đã lôi cuốn họ gia nhập một tu hội nào đó.

Bởi đó việc huấn luyện phải có những những đặc tính của việc đi theo Đức Kitô cách triệt để, và mục đích của đời sống thánh hiến là đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Điều đó sẽ giúp hội nhập các kiến thức thần học, nhân văn và kỹ thuật vào đời sống thiêng liêng và tông đồ của hội dòng, luôn duy trì tính chất của một trường dạy sự thánh thiện.

Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Chúa Kitô còn đưa ra nhiều hướng dẫn về việc đào tạo: việc huấn luyện cần chú ý gieo trồng trong tâm khảm những người thánh hiến trẻ, các giá trị nhân bản thiêng liêng và đời sống, phải chuẩn bị cho biết đối thoại trong cộng đoàn, với lòng chân thành và bác ái của Chúa Kitô. Xem sự khác biệt như một sự phong phú và làm quen với các cách nhìn và cảm nghĩ khác nhau. Đối thoại văn hóa đi đôi với thời đại và đối thoại với nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa của đời sống con người ngày hôm nay. Vì thế, các tu sĩ cần được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn trong lãnh vực triết học, thần học cũng như tâm lý. Đây là những cách để chúng ta chống lại những thách đố khó khăn xảy ra trong môi trường phục vụ khi làm việc tông đồ: có sự hiểu biết, có tình yêu thương, tôn trọng, cảm thông thì chắc chắn tu sĩ sẽ có phương tiện bảo vệ mình hơn trong lời khấn khiết tịnh.

III. NHỮNG PHƯƠNG THẾ BẢO VỆ ĐỨC KHIẾT TỊNH
Qua việc tìm hiểu về những nguyên nhân sai lỗi có thể xảy ra cho việc sống đức trinh khiết trong tương quan ba lời khuyên Phúc âm, chúng ta nỗ lực tìm ra những bài học hữu ích cho mỗi người thánh hiến trong xã hội Việt Nam hôm nay. Để có đôi chân vững vàng trong đời dâng hiến, mỗi người phải tìm cho mình những phương tiện vững chắc để bước đi. Xin đưa ra một hướng đi qua ba chữ S đời dâng hiến. 
1. Say mê Đức Kitô
- Thuộc về Đức Kitô: Mỗi người chúng ta đã được thuộc về Đức Kitô khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội.
- Hướng về Đức Kitô: Những người thánh hiến, cách riêng những người đã tuyên khấn, đã chọn Đức Kitô làm lẽ sống đời mình, phải luôn hướng về Đức Kitô. Một khi đã hướng về Đức Kitô thì dù được phân công làm gì vẫn cứ an tâm đi theo Đức Kitô là lẽ sống, vì luôn gặp được cánh tay “quan phòng” kéo lên hay đẩy từ phía sau.
- Tìm về Đức Kitô: Trước những vấn đề mới của thời đại, người tu sĩ được mời gọi tìm về Đức Kitô tại những địa chỉ mà huấn thị Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô đã mách bảo:
1. Lời Chúa (số24)
2. Bí Tích Thánh Thể (số 26)

3. Ý Cha qua hình ảnh Chúa Kitô bị bỏ rơi trên thập giá (số 27).
Như vậy là chúng ta tìm lại tình đầu say mê Đức Kitô. Nếu tình đầu đó có bị mờ đi qua lớp bụi thời gian, thì đây là lúc phủi đi lớp bụi ấy mà tìm lại nét xuân tươi đời dâng hiến, tìm lại hương vị tươi mát của mùa xuân thuở ban đầu.
2. Sống đời hiệp thông
a. Hiệp thông với cộng đoàn Dòng
Người ta bảo “tu là cõi phúc”, nhưng phúc này không phải tự nó mà có, song phải xây dựng trên sự tìm kiếm. Hạnh phúc đời tu là hạnh phúc mà ngày nào cũng phải được củng cố. Nếu mình biết gia cố đúng mức thì đó là cõi phúc thật, vì mối giao hảo giữa anh chị em với nhau luôn cần đến chữ nhân và chữ tín.
Truyện cô bé mồ côi trong phim “Giầy thủy tinh” của hàn quốc cho ta một triết lý sống nhân hậu qua lời của cô bé: “chính khi buồn nhất, mình phải cười lên, không chỉ để vượt lên số phận mà còn để người xung quanh không phải lo lắng về mình”. Trong cộng đoàn cũng thế, nếu ai cũng biết vượt lên bản thân mình, nhất là biết nở nụ cười rạng rỡ để người khác không phải lo buồn, thì từ những sợi chỉ đơn giản mong manh ấy, mọi người đều đang góp phần dệt nên tấm áo hạnh phúc.
Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô nói đến đối thọai, nghĩa là phải biết chấp nhận những cái khác biệt của nhau. Đừng bao giờ đẩy cái “khác nhau” thành cái “khắc nhau”. Nếu ai cũng giống ai thì chẳng còn gì hấp dẫn, nhưng bởi vì ai cũng khác nhau nên mới cần đến nhau, tương trợ nhau. Những cây tre già biết nép mình để cho những chồi măng mọc lên. Mặc dù nép mình như thế nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc khi thấy cả bụi tre đang rạng rỡ hơn, đó là nét đẹp của cộng đoàn dâng hiến. Đây là cách diễn tả mối hiệp thông cộng đoàn đẹp nhất, cụ thể nhất, và không chỉ là chuyện tử tế mà còn là chuyện thực tế.

b. Hiệp thông trong địa bàn dâng hiến.
Nếu hiệp thông với đời sống cộng đoàn là chìa khóa mở vào hạnh phúc hiến dâng, thì hiệp thông với địa bàn dâng hiến xung quanh sẽ là một dấu chỉ khả tin, cũng là một tiếng nói đẹp cho hạnh phúc đời tu. Địa bàn xung quanh đây có thể là các Hội dòng cùng chia sẻ với Hội dòng mình một thao thức tâm linh hay một trăn trở mục vụ. Hay địa bàn xung quanh cũng có thể là nơi mình lên đường.
Đối với những ai đã hết mình sống với điều này sẽ thấy rõ khi ta ở, ta vẫn sống dung dị như tất cả mọi người, dầu có phải “khoái ăn sang, sáng ăn khoai”, nhưng khi được đổi đến chỗ khác ta mới thấy quyến luyến, nghe sao “đất bỗng hóa tâm hồn”.

3. Sẵn sàng chèo ra chỗ nước sâu
     a. Bằng rời xa bến bờ yên ả.
Để chèo ra chỗ nước sâu người ta phải chấp nhận rời xa bến bờ bình an, ấm êm của một đời sống đủ đầy. Ngày nay khi cuộc sống khá lên dân chúng có của ăn của để, và nhà tu cũng “nước lên thuyền lên” sửa nhà sửa cửa trang bị trong ngoài đầy đủ thì khó nghèo và sự dính bén lại xảy ra mặc dù tiện nghi đời sống đều là phương tiện giúp ta phục vụ tốt hơn không ai chối cãi, nhưng khi phương tiện đó trở thành dấu hiệu phản chứng cho lời khấn thì lúc đó chúng ta phải biết rời xa những bến bờ êm ả, ấm êm để vào sa mạc tìm gặp tình yêu đích thực. Bến bờ êm ả của lòng mình là những tập quán “tìm kiếm hiệu năng và duy hoạt động” trong khi lại xem nhẹ việc cầu nguyện, không cầu nguyện không có sức sống, chiếc dù đẹp nhất là làm bằng Cầu nguyện.
b. Lướt đi bằng đuôi mái chèo truyền thống và sáng tạo.
Trung thành với ơn gọi và trung thành với tôn ý của Đấng Sáng Lập nhưng đồng thời cũng phải hợp với tính sáng tạo của địa phương, của thời đại. Đó là hai bước chân của người truyền giáo, của người sẵn sàng không phải chỉ dấn thân nhưng còn biết hiến thân để phục vụ cho ơn gọi mình đã chọn. Nếu truyền thống ơn gọi mỗi hội Dòng vốn cần đến một sự trung thành mang tính sáng tạo, thì đây là lúc mở ra một nhãn giới lớn hơn, rộng hơn, đẹp hơn để phục vụ Thiên Chúa và Giáo Hội cũng như ơn gọi Hội Dòng mình một cách hạnh phúc hơn.
c. Thả lưới chỗ nước sâu của thời đại
Trong Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Đức Ki-tô, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc tới “Thiên tài nữ tính” bao năm qua đã trở nên những vị anh hùng, nhưng chưa có ai dám táo bạo chèo ra chỗ nước sâu như mẹ Têrêsa Calcutta. Nơi mẹ trái tim người nữ đã chứng minh được đặc tính “tái truyền giáo” của mình. Huấn thị nhắc tới “thiên tài nữ tính” vì Giáo Hội vẫn tôn trọng tất cả những gì Thánh Thần thổi đến trong nhịp sống hôm qua và cách riêng thời nay vốn được coi là thời đại của giới nữ. Nữ giới thường nhạy cảm hơn mà trái tim càng nhạy càng cung cấp cho Giáo Hội những sáng kiến truyền giáo phù hợp hơn với thời đại.
Cũng trong huấn thị, người ta còn thấy chữ “nghèo” với những nhấn mạnh đặc biệt. Vẫn biết rằng từ xa xưa Giáo Hội đã nói tới chữ “nghèo” với nhiều trân trọng, ngày nay thần học Tây Phương cho rằng người nghèo là “Bí tích của Thiên Chúa”. Nghèo về nhiều mặt: nghèo về kinh tế, tri thức, nghèo về tôn giáo, nhân cách, nghèo hạnh phúc, nghèo tình thương. Vậy ta phải cung cấp cho họ Tin mừng, Tin mừng giải thoát ngay cả về kinh tế để họ có cơm ăn áo mặc và sống ổn định rồi từ đó phục hồi sự sống cho họ bằng cách đẩy lùi và tẩy trừ “văn hóa sự chết” vốn là kẻ thù không đội trời chung với văn minh tình thương.
Trên đây là ba chữ “S” đọc được trong huấn thị “Xuất phát lại từ Đức Kitô”: say mê Đức Kitô, sống đời hiệp thông, sẵn sàng chèo ra chỗ nước sâu. Ba chữ “S” tất nhiên cùng âm vang trong đời sống Giáo Hội và cho mọi người, cách riêng cho những ai đi theo con đường thánh hiến. Con đường ấy dù hoa mĩ ngoằn ngoèo như chữ “S”, vẫn là con đường Thiên Chúa dẫn chúng ta đi trong hạnh phúc làm con người và làm con Thiên Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

KẾT LUẬN
Trước một đồ vật chúng ta cũng phải chọn xem cái đẹp nào tốt để chọn, huống chi trước một ơn gọi, cách đặc biệt ơn gọi Thánh Hiến. Mặc dù biết rằng chọn cái đẹp đời sống Thánh Hiến đó là một con đường phía trước đầy chông gai. Nhưng vì cái đẹp đó người Thánh hiến đã lên đường đi tiếp con đường Thánh Hiến qua ba lời khấn với những mối tương quan chặt chẽ bổ túc cho nhau. Và chắc chắn đi theo con đường đẹp đó không phải là không có những khó khăn ràng buộc. Nhưng với ơn Chúa và ý chí vững mạnh, mỗi người chúng ta sẽ chiến thắng, sẽ vượt qua những thử thách và sẽ đứng vững trước mọi hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống, cách riêng trong xã hội Việt Nam hôm nay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét